Giáo sư Tạ Quang Bửu - một trí tuệ bách khoa chuẩn mực
Giáo sư Tạ Quang Bửu được nhận xét là “một bộ óc Lê Quý Đôn thời nay”. Ông là nhà khoa học xuất sắc, một trí thức đa ngành, đa tài và mang một nhân cách lớn. Ông còn là nhà ngoại giao, nhà quản lý giáo dục với tầm nhìn chiến lược, là người kết nối khoa học Việt Nam với thế giới. Giáo sư Tạ Quang Bửu là niềm tự hào của giới trí thức Việt Nam sớm đến với cách mạng.
Giáo sư Tạ Quang Bửu (23/7/1910 – 21/8/1986) sinh ra trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Thiên Nhẫn, Nghệ An. Ông là Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội từ năm 1956 đến năm 1961; Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp từ năm 1965 đến năm 1976, là Đại biểu Quốc hội từ khoá I đến khóa VI (1946 - 1981).
Năm 1996, Giáo sư Tạ Quang Bửu được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 về khoa học công nghệ với tập hợp các công trình Giới thiệu khoa học kỹ thuật hiện đại (sau 1945); Chỉ đạo các nhiệm vụ quan trọng trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tài năng hiển lộ sớm, liên tục tự hoàn thiện và phát huy
Giáo sư Tạ Quang Bửu (23/7/1910 – 21/8/1986) được sinh và nuôi dưỡng trong một gia đình nhà giáo tại thôn Hoành Sơn, xã Thiên Nhẫn, Nghệ An. Từ thiếu thời, “Cậu Bửu” đã nổi tiếng học giỏi từ lúc mới 7 tuổi sau khi đỗ cao trong cuộc thi chữ Hán, Việt văn và toán ở phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Năm 1922, Tạ Quang Bửu học trường Quốc học Huế, rồi ra Hà Nội học trường Bưởi. Năm 1929, sau khi đỗ đầu tú tài Việt và cả tú tài Tây ban toán, ban triết, ông nhận học bổng sang Pháp du học.
Ở Paris, ông đã tiếp xúc với nhiều nhà toán học lớn của nước Pháp, tham gia nhóm Nicolas Bourbaki. Trên cơ sở nghiên cứu từ những năm đó, sau này ông đã viết công trình “Cấu trúc Bourbaki” nổi tiếng (1961).
Năm 1930, ông thi đỗ vào trường Centrale Paris, theo học chương trình cử nhân khoa học ở đại học Sorbonne, học toán ở các đại học Paris và Bordeaux những năm 1930-1934. Năm 1934, Tạ Quang Bửu được trường Bordeaux trao đổi sang đại học Oxford (Anh). Tại đây ông học thêm vật lý lượng tử.
Anh sinh viên Tạ Quang Bửu nổi tiếng có thói quen đọc sách ở mọi nơi, mọi lúc, đọc rất nhanh, nhớ rất lâu. Vốn kiến văn uyên bác liên tục được tích lũy đã giúp ông trở thành nhà bách khoa thư.
Trở về nước năm 1935, Tạ Quang Bửu không “ra làm quan” mà đi dạy toán và tiếng Anh tại trường Phú Xuân, trường Providence (Thiên Hựu) ở Huế và tranh thủ tự học thêm. Ông nghiên cứu thêm cơ học lượng tử và phương trình vi phân.
Cùng thời gian, ông theo học rồi trở thành tri kỷ với “Ông già Bến Ngự” Phan Bội Châu đang bị Pháp an trí ở Huế và thường đến học chữ Hán để hiểu sâu văn hóa Việt Nam và phương Đông. Ở “Ngôi nhà Bến Ngự” - nay đã thành di tích, Tạ Quang Bửu dần tự đọc các tác phẩm của Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử và nhiều tác gia triết học phương Đông khác bắng nguyên văn Hán ngữ.
Tạ Quang Bửu học rất nhiều nhưng chỉ có duy nhất một bằng cử nhân toán học. Đó là cái “láu cá”, khôn ngoan đáng yêu của một học sinh nghèo mà ham học: “lách” thông lệ học xong, nhận bằng là về nước bằng cách học gần hết giáo trình lại xin học sang giáo trình khác để thâu tóm trong hành trang trước khi về nước càng nhiều kiến thức càng tốt.
Dưới sự lãnh đạo của Huynh trưởng Tạ Quang Bửu, hàng ngày, các học viên Thanh niên tiền tuyến Huế đội ngũ chỉnh tề, hát vang những bài ca khúc đầy khí thế Tiếng gọi sinh viên, Lên đàng… trên đường đi dã ngoại ở núi Ngự Bình, Nam Giao để tập quân sự, học cưỡi ngựa ở Sở Canh nông, học bơi, học về vũ khí và cả các nghề cơ khí...
Dưới sự dẫn dắt của vị Huynh trưởng nhiều uy tín, Trường thanh niên tiền tuyến Huế được Việt Minh hóa nhanh chóng, hăng hái chuẩn bị lực lượng cho thời cơ giành độc lập dân tộc đang đến gần.
Ngày 17/8/2013, tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (Hà Nội), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Ban liên lạc Cựu học sinh Trường Thanh niên tiền tuyến Huế đã tổ chức gặp mặt và công bố Quyết định công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa cho hai vị đồng sáng lập Trường là Luật sư Phan Anh và Giáo sư Tạ Quang Bửu đồng thời ghi nhận vai trò và tôn vinh những cống hiến, đóng góp của những học sinh Trường Thanh niên tiền tuyến Huế nói chung.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Giáo sư Tạ Quang Bửu ra Hà Nội, đảm nhận chức vụ Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao từ tháng 9/1945 đến tháng 1/1946. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kiêm cả vị trí Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, Giáo sư Tạ Quang Bửu giúp Người tiếp các nhà ngoại giao Anh, Mỹ và soạn thảo các bức công hàm, điện thư gửi J. Stalin, H. Truman, J. Byrnes...
Tháng 8/1947, Giáo sư Tạ Quang Bửu là Bộ trưởng Quốc phòng. Năm 1948, ông xin trở lại cương vị Thứ trưởng và đề nghị giao cương vị Bộ Quốc phòng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 1954, ông tham gia đoàn đàm phán của Chính phủ ở Genève và thay mặt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký Hiệp định Geneva. Nhờ am hiểu địa hình sông núi, ông đề nghị lấy sông Bến Hải chứ không phải sông Gianh làm giới tuyến, tận dụng tối đa lợi thế cho miền bắc.
Sau năm 1954, ông lại xin thôi chức Thứ trưởng Quốc phòng để làm Hiệu trưởng Đại học Bách khoa Hà Nội vừa mới thành lập. Nhưng dù có đảm nhiệm chức danh lãnh đạo hay không ông đều toàn tâm toàn ý phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
Trong hơn 10 năm là Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp, với tầm nhìn chiến lược, Giáo sư Tạ Quang Bửu đã đề xuất cải tiến nội dung giảng dạy theo yêu cầu: “Dạy những điều cơ bản nhất, hiện đại nhất và sát hợp với điều kiện Việt Nam nhất”.
Triết lý phát triển giáo dục của ông với ba trụ cột “Cơ bản - Hiện đại - Việt Nam” đặt cơ sở cho việc xây dựng phương pháp giảng dạy đại học gắn kết nhà trường với thực tiễn và đời sống, gắn giảng dạy đại học với nghiên cứu khoa học để bảo đảm chất lượng của các kỹ sư, cử nhân đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội... Những vấn đề này hiện nay vẫn còn nguyên tính thời sự trong nền giáo dục đại học ở Việt Nam.
Ông chỉ đạo thành lập các ban thư ký của các bộ môn và các ngành đào tạo để nghiên cứu cải tiến chương trình đào tạo. Đồng thời ông tập hợp lớp cán bộ có trình độ cao và có kinh nghiệm giảng dạy trong các nhóm “tinh nhuệ” để chú tâm biên soạn các giáo trình.
Năm 1966, ông đề xuất với Chính phủ cho thành lập phân hiệu II Đại học Bách khoa Hà Nội, nay là Học viện Kỹ thuật quân sự với một quy chế đặc thù được Bộ Đại học và Trung học, Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ đạo về nội dung chương trình.
Cùng với tổ chức phân hiệu II Đại học Bách khoa, cuối năm 1966, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu quyết định thành lập thêm nhiều trường đại học mới trên cơ sở những khoa hiện có như: Trường Đại học Xây dựng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất tách từ Khoa Xây dựng và Khoa Mỏ địa chất của Đại học Bách khoa...
Những năm 1970, ông đưa ra chủ trương thi tuyển vào các trường đại học, thi chọn sinh viên, nghiên cứu sinh đi học tập và nghiên cứu ở các nước xã hội chủ nghĩa. Từ đó mỗi năm có hàng nghìn sinh viên giỏi, cán bộ ưu tú được gửi đi đào tạo ở nước ngoài.
Ngoài công tác giáo dục, Giáo sư Tạ Quang Bửu vẫn tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật quân sự và có những cống hiến xuất sắc cho quốc phòng. Khi giặc Mỹ dùng bom từ trường nổ chậm phong tỏa các tuyến vận tải ở khu IV, đường Trường Sơn, Giáo sư Tạ Quang Bửu đã cùng các nhà khoa học Trường Đại học Kỹ thuật quân sự tìm ra nhiều phương pháp phá nổ nhằm vô hiệu hóa bom nổ chậm, thông tuyến vận tải bảo đảm an toàn cho người và xe ra mặt trận.


