Giáo sư Trần Hữu
Giáo sư Trần Hữu Tước sinh ngày 13/10/1913 trong một gia đình trung lưu tại làng Bạch Mai, xã Hoàn Long, tỉnh Hà Đông, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội.
Tốt nghiệp phổ thông trung học, ông được học bổng sang Pháp học. Tại Pháp, thi đỗ vào trường Đại học Y khoa Paris, bảo vệ luận án bác sĩ xuất sắc năm 1940, ông được giữ lại trường làm một bác sĩ Tai mũi họng giỏi có tín nhiệm cao ở Pháp.Ông đã được mời hợp tác giảng dạy, điều trị tại nhiều bệnh viện tại Pháp, có thu nhập rất cao (trên 20.000 franc tương đương khoảng 20 lượng vàng thời bấy giờ).Ngày 31/5/1946, Hồ Chủ tịch đi cùng phái đoàn Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Phông-ten-nơ-blô, bắt đầu về nước ngày 18/9/1946.Khi Bác từ Pháp về nước, bác sĩ Trần Hữu Tước đã cùng một số trí thức Việt kiều yêu nước như ông Phạm Quang Lễ (tức Trần Đại Nghĩa), Võ Quý Huân… nghe theo lời kêu gọi của Bác, tự nguyện từ bỏ cuộc sống giàu sang phú quí bên Pháp, theo Bác trở về quê hương Việt Nam.Về Hà Nội, ông đã được mời giảng dạy và xây dựng ngành Tai mũi họng ở Trường Đại học Y Dược Việt Nam (nay là Trường đại học Y Hà Nội), là một trong những cán bộ giảng dạy giỏi đầu tiên của trường.GS Hồ Đắc Di, nguyên Giám đốc trường Đại học Y - Dược thời ấy cho biết: Một buổi sáng tháng 11/1946, các thầy Tôn Thất Tùng, Hoàng Đình Cầu... và một số sinh viên trường chăm chú lắng nghe bài giảng của người thầy đầu tiên chuyên ngành tai mũi họng vừa từ Paris theo Bác Hồ về nước. Đây là lần đầu tiên một bài giảng được trình bày bằng tiếng Việt ở trường.Từ ngày thành lập Trường Đại học Y - Dược năm 1902 cho đến Cách mạng tháng Tám, sinh ngữ bắt buộc để học ở trường là tiếng Pháp. Vì vậy dùng tiếng Việt để giảng dạy là một thành công lớn của bác sĩ Tước.Trong bài giảng hôm đó, bác sĩ Trần Hữu Tước trình bày khái quát sự cần thiết phải học tập và phát triển chuyên khoa tai mũi họng rồi kể lại những ấn tượng sâu sắc trong những ngày gần Bác Hồ ở Paris, nhắc đến những lời Bác Hồ dạy: “Người thầy thuốc giỏi phải như một người mẹ hiền”.Khi trường Đại học Y chuyển lên Chiêm Hóa, GS Trần Hữu Tước nhận nhiệm vụ đào tạo cán bộ chuyên khoa tai mũi họng cho trường.Thời gian này, thầy Tước bị những cơn đau đường ruột làm sức khỏe bị giảm sút rất nhanh. Năm 1946, khi theo Bác Hồ từ Pháp về nước, thầy cao 1,75m, nặng 75 kg, mà giờ chỉ còn 42 kg, sút đến trên 30kg.Thuốc men quá thiếu thốn, cấp trên gợi ý sắp xếp một đường dây bí mật đưa ông vào Hà Nội chữa bệnh một thời gian nhưng ông kiên quyết từ chối và nói “Thà chết ngoài vùng tự do còn hơn sống trong vùng địch tạm chiếm!”.Tuy nhiên thời gian sau, cuối năm 1951, Trung ương Đảng và Chính phủ đã bố trí gửi bác sĩ Trần Hữu Tước sang Trung Quốc khám bệnh và điều trị.Sau thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, tiếp quản Thủ đô tháng 10/1954, bác sĩ Trần Hữu Tước nhận quyết định về Bệnh viện Bạch Mai, được phân công xây dựng khoa tai mũi họng của bệnh viện.Năm 1955, ôngTrần Hữu Tước là một trong 9 bác sĩ đầu tiên của nước ta được Chính phủ phong hàm Giáo sư cùng các ông Hồ Đắc Di, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Vũ Hỉ, Đặng Văn Ngữ, Trương Công Quyền, Hoàng Tích Trí, Tôn Thất Tùng.Tuy nhiên thời gian sau, cuối năm 1951, Trung ương Đảng và Chính phủ đã bố trí gửi bác sĩ Trần Hữu Tước sang Trung Quốc khám bệnh và điều trị.Sau thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, tiếp quản Thủ đô tháng 10/1954, bác sĩ Trần Hữu Tước nhận quyết định về Bệnh viện Bạch Mai, được phân công xây dựng khoa tai mũi họng của bệnh viện.Năm 1955, ôngTrần Hữu Tước là một trong 9 bác sĩ đầu tiên của nước ta được Chính phủ phong hàm Giáo sư cùng các ông Hồ Đắc Di, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Vũ Hỉ, Đặng Văn Ngữ, Trương Công Quyền, Hoàng Tích Trí, Tôn Thất Tùng.Ông từng làm Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai và cũng là Viện trưởng đầu tiên của Bệnh viện Tai mũi họng trung ương.Hiện tại, để tưởng nhớ tới người bác sĩ tài ba, ở Thủ đô Hà Nội có một con đường mang tên ông


