Bài viết

Giáo sư Trần Quốc Vượng và việc nghiên cứu lịch sử - văn hóa vùng đất Nam bộ

Đà Nẵng19/04/2026tuổi trẻ Liên Chiểu (Phường Liên Chiểu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

1.Trong số hàng trăm bài viết và hàng chục công trìnhđã được công bố của GS Trần Quốc Vượng thì số lượng bài có nội dung trực tiếp về các vấn đề lịch sử - văn hóa vùng đất Nam bộ thật là ít ỏi, chỉ có khoảng 10 bài. Nhưng cũng như nhiều bài viết khác của giáo sư, các vấn đề ông đặt ra, gợi mở, lưu ý… hoàn toàn không phụ thuộc vào số lượng bài viết hay con chữ, mà thậm chí, có bài rất ngắn nhưng đã chỉ đúng vấn đề nền tảng cho việc nghiên cứu một lĩnh vực nào đó. Như một vài bài viết của GS Trần Quốc Vượng về lịch sử - văn hóa Nam bộ sau đây (theo thống kê chưa đầy đủ của tôi).

1.Trong số hàng trăm bài viết và hàng chục công trìnhđã được công bố của GS Trần Quốc Vượng thì số lượng bài có nội dung trực tiếp về các vấn đề lịch sử - văn hóa vùng đất Nam bộ thật là ít ỏi, chỉ có khoảng 10 bài. Nhưng cũng như nhiều bài viết khác của giáo sư, các vấn đề ông đặt ra, gợi mở, lưu ý… hoàn toàn không phụ thuộc vào số lượng bài viết hay con chữ, mà thậm chí, có bài rất ngắn nhưng đã chỉ đúng vấn đề nền tảng cho việc nghiên cứu một lĩnh vực nào đó. Như một vài bài viết của GS Trần Quốc Vượng về lịch sử - văn hóa Nam bộ sau đây (theo thống kê chưa đầy đủ của tôi).*Sách Việt Nam cái nhìn địa văn hóa. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội 1998.Về nền tảng văn hóa dân gian vùng Đông Nam bộ (tr.455)Đôi nét về nền cảnh địa – văn hóa của nghệ thuật sân khấu cải lương (tr.465)Côn Đảo – một cái nhìn địa – văn hóa (tr.470)Về với Cà Mau (tr.479)*Sách Góp phần tìm hiểu lịch sử - văn hóa 300 năm Sài Gòn – TP.HCM. Nhà xuất bản Trẻ, 1998- Du khảo một số di tích lịch sử văn hóa ở Sài Gòn và vùng phụ cận (tr.252), viết chung với Lê Trung.*Sách Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc – Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội 2000.- Văn hóa ẩm thực trên nền cảnh môi trường sinh thái nhân văn ba miền Bắc Trung Nam (tr.392)*Sách Môi trường, Con người và Văn hóa. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin – Viện Văn hóa. Hà Nội 2005- Nam bộ - các tiểu vùng sinh thái khào cổ - nhân văn và huyền tích khởi nguyên luận (tr.379)- Khảo cổ học tiền – sơ sử TPHCM (tr.393)*Sách Trong cõi. Nhà xuất bản Hội nhà văn và Công ty Nhã Nam. Hà Nội 2014.- Đô thị cổ Việt Nam (tr.93)Chân dung GS. Trần Quốc Vượng- (Ảnh Vương Anh)2.Có thể nhận thấy từ những bài viết đầu tiên về lịch sử - văn hóa Nam bộ GS Trần Quốc Vượng đã tiếp cận và đặt cơ sở cho việc nghiên cứu khu vực này từ lĩnh vực Địa – Văn hóa.Như một bài viết trước đây của tôi về Thầy Vượng: “Dạy về các nền văn hóa khảo cổ Việt Nam nhưng Thầy lại bắt đầu bằng câu hỏi: Các ông các bà có biết vì sao Đại học Văn khoa Sài Gòn có khoa Sư - Địa không?. Câu hỏi làm chúng tôi ngạc nhiên, vì ngay từ giờ học Lịch sử đầu tiên trong trường Đại học, chúng tôi đã được biết rằng truyền thống nghiên cứu khoa học xã hội ở VN là Văn Sử bất phân. Các công trình sử học quan trọng đồng thời là những tác phẩm văn học tiêu biểu cho từng thời kỳ, và ngược lại, nhiều tác phẩm văn học cũng được sử dụng như những tư liệu lịch sử. Bằng câu hỏi này Thầy Vượng đã mở ra cho chúng tôi kiến thức đầu tiên về Địa -Văn hóa, Địa - Chính trị , một khái niệm khoa học hiện đại mà bất cứ người học Sử, làm Sử nào cũng cần nắm vững. Có thể diễn giải đơn giản khái niệm này là: Lịch sử – đó là địa lý trong thời gian và Địa lý – đó là lịch sử trong không gian”.Từ việc khai mở hướng tiếp cận và những kiến thức mới cho lứa sinh viên đầu tiên ở miền Nam sau ngày 30/4 giáo sư Trần Quốc Vượng đã tiếp tục triển khai lý thuyết không gian địa – văn hóa Nam bộ, cả trên bình diện tổng quan Đông và Tây Nam bộ và cả ở những tiểu vùng sinh thái đặc thù (như Cần Giờ - TPHCM).Ông đã sơ đồ/mô hình hóa vùng Đông Nam bộ trong “mạng lưới” các nền văn hóa cổ thời kim khí ở Đông Dương và Đông Nam Á, bằng cả con đường lục địa và ven biển. Ông chỉ ra mối liên hệ mật thiết, hữu cơ của kinh tế - xã hội ĐNB – văn hóa Đồng Nai và các nền văn hóa khảo cổ khác (Tây Nguyên, Đông Sơn, Sa Huỳnh, Samrong Sen, Nonnok Tha, Hạ Lào, Thượng Lào, Vân Nam, Lưỡng Quảng, Ryukyu, cũng như trong tiểu vùng lưu vực Đồng Nai từ Đồng Nai Thượng (Đạ Đờn sông lớn) xuống Đồng Nai hạ lưu cận biển… Trong cái nhìn rộng lớn như vậy, văn hóa khảo cổ Đồng Nai không bị “nhòa” đi mà ngược lại, hiện ra rõ nét hơn từ những đối sánh về di tích, di vật, trên cơ sở so sánh về môi trường sinh thái nhân văn.Tôi nhận thấy GS Trần Quốc Vượng thường đề cập đến ba vấn đề cơ bản của lịch sử - văn hóa Nam bộ từ góc độ Địa – Văn hóa.2.1 Trường hợp nhóm di tích mộ chum Cần Giờ TPHCM và sự “đa dạng văn hóa” ngay từ thời tiền – sơ sử.GS Trần Quốc Vượng nhận xét “Chúng tôi cho rằng một trong những phát hiện khảo cổ quan trọng nhất ở miền Nam sau ngày giải phóng mà Bảo tàng Lịch sử VN. TPHCM và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Hà Nội đã góp phần tích cực nhất – là việc điều tra, khai quật, nghiên cứu và phân lập được phức hệ văn hóa Giồng cá Vồ - Giồng Phệt – Giồng Am ở vùng Cần Giờ với tuổi kéo dài 2500 BP – 2000 BP cho đến vài thế kỷ sau công nguyên”.Nếu chỉ nhìn nhóm di tích này hạn hẹp trong mối liên hệ trong “biên giới hành chính Việt Nam” thì có cái nhìn khác về nguồn gốc tính chất của nó. Nhưng nếu đặt nó trong bối cảnh rộng hơn về địa – văn hóa Đông Nam Á và xa hơn (biên giới văn hóa không bao giờ là/trùng với biên giới hành chính), thì khó có thể coi nó hoàn toàn “thuộc về” một văn hóa khảo cổ nào, bởi tính chất “phối/kết hợp” về di vật của nó rất rộng trong không gian nhưng đồng thời, về địa tầng văn hóa và nhất là (địa tầng) đồ gốm thì rất sâu về thời gian với những yếu tố chủ đạo của các di tích khảo cổ lưu vực Đồng Nai. Đây mới là “cơ tầng” quan trọng của “văn hóa Giồng Phệt/Cần Giờ” như cách định danh của chúng tôi về nhóm di tích này.Cũng nhìn từ bối cảnh rộng/dài như vậy, văn hóa Giồng Phệt (hay nhóm di tích Cần Giờ) đã góp phần quan trọng minh chứng cho nguồn gốc nội tại, bản địa của văn hóa Óc Eo, văn minh Phù Nam trên đất Nam bộ; đồng thời góp phần làm sáng tỏ “bước chuyển từ giai đoạn tiền sử sang giai đoạn hình thành nhà nước sơ khai” ở khu vực Đông Nam Á từ văn hóa Đồng Nai/Giồng Phệt đến vương quốc Phù Nam, từ văn hóa Sa Huỳnh đến vương quốc Chămpa: “Chặng cuối, Giồng Am (niên đại C14 1500 BP) thì đã là Óc Eo sớm – giữa và cùng với các phát hiện ra những di chỉ văn hóa – văn minh Óc Eo khác ở Long An, ở TP. Hồ Chí Minh, ở Đồng Nai… nó góp phần minh chứng rằng không gian văn hóa Óc Eo không chỉ hạn hẹp ở Tây Nam bộ như các nhà khảo cổ Pháp trước 1945 – 1947 suy nghĩ mà không gian ấy bao trùm cả miền Nam hiện tại, từ Đông sang Tây”.2.2 Trong bối cảnh Địa – Văn hóa đó, GS Trần Quốc Vượng đã chỉ ra một khiếm khuyến của việc nghiên cứu tiền – sơ sử Sài Gòn – TPHCM“không viết một chữ nào về các đảo gần TPHCM như Côn Đảo, Thổ Chu… nơi đều có mộ vò, gốm, đồ trang sức thủy tinh, mã não tương tự Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt”. Khuyết điểm này đến nay vẫn chưa được sửa chữa vì gần 30 năm rồi (từ 1998) nhưng tới nay, KCH tiền – sơ sử TPHCM gần như không có thêm một bước tiến mới nào, do nguồn nhân lực bị phân tán và do quan niệm của những người lãnh đạo ngành văn hóa, bảo tàng ở TPHCM về vai trò của khảo cổ học trong bảo tàng.Từ mô hình “lấy sông làm tuyến chính với các trung tâm thánh địa, thành, cảng thị và tiền cảng thị của một tiểu vùng/ tiểu vương quốc” mà GS Trần Quốc Vượng cùng cộng sự đã khảo sát ở miền Trung và xây dựng nên, áp dụng vào lưu vực Đồng Nai, GS cũng đã phác họa một “tiểu quốc” có thánh địa Cát Tiên, thành Biên Hòa (“trên nền cũ thành man” như ghi chép trong Gia Định thành thông chí) và cảng thị sơ khai Cần Giờ. Trong mô hình này có thể coi Côn Đảo là “tiền cảng thị” của Cần Giờ, sau này là của thành Gia Định.
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hòai Đức (khoảng 1819) đã ghi chép về Côn Đảo như sau:Ở giữa biển Đông, từ cửa cảng Cần Giờ chạy thuyền ra biển theo hướng đông mặt trời mọc 2 ngày mới đến. Đảo lớn 100 dặm, có ruộng núi trồng lúa, bắp, khoai, đậu,nhưng cũng không nhiều, nên thường phải mua gạo ở Gia Định mới đủ dùng. Thổ sản ở đây là ngựa và trâu, núi không có cọp beo. Dân ở đảo tự kết lại làm binh sĩ, gọi Tiệp Nhất, Tiệp Nhị, Tiệp Tam ba đội, trực thuộc đạo Cần Giờ, có đủ khí giới để giữ gìn đất ấy phòng quân cướp hung dữ Đồ Bà, không cần kêu gọi chỗ khác đến giúp. Dân lính ở đấy thường lấy yến sào, đồi mồi, vích, quế hương, mắm, ốc tai tượng, rồi theo mùa mà dâng nộp; còn lại thì đánh bắt hải sản như cá, tôm để sinh sống. Quả cau ở đây to, vỏ màu hồng, vị lại ngọt thơm, cứ đến đầu mùa xuân, lúc cau ở Gia Định chưa kết quả, thì cau ở đây đã dùng được, người ta chở vào bán với giá rất cao.Như vậy có thể coi Côn Đảo là “tiền cảng” của cảng Bến Nghé – Gia Định. Mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế (và quân sự) giữa Côn Đảo và (thành/vùng) Gia Định đã mang lại sự phát triển ổn định cho hòn đảo này. Và chắc hẳn mối quan hệ này có nguồn gốc từ thời cửa biển Cần Giờ là cảng thị sơ khai của cả vùng Đồng Nai trù phú. Nghiên cứu về mối liên/quan hệ giữa Côn Đảo – Cần Giờ - Đồng Nai/Bến Nghé không chỉ để hiểu về Nam bộ thời tiền sử mà còn để ngày nay suy ngẫm về vị thế của Côn Đảo nói riêng, các đảo ven bờ nói chung trong mối quan hệ hướng nội và hướng ngoại. Cũng có nghĩa là vấn đề văn hóa biển (qua kinh tế, lối sống của cư dân, giao lưu văn hóa – kỹ thuật) của vùng đất Nam bộ cần được lưu ý.2.3 Một vấn đề nữa mà GS Trần Quốc Vượng đã đặt ra từ những cuộc khai quật đầu tiên ở khu di tích Cát Tiên, cũng theo mô hình “một tiểu quốc” ở lưu vực Đồng Nai, đó là vấn đề về “vương quốc Mạ”. Thánh địa Cát Tiên thế kỷ X-XII ở Đồng Nai thượng ngã ba Đạ Đờng (sông lớn) trong một bồn địa giữa núi. Đạ Hoai – La Ngà là “ranh giới mơ hồ” của Mạ - Chăm. Nghiên cứu về “vương quốc Mạ” – theo GS Trần Quốc Vượng, là để sáng tỏ hơn luận điểm “không có một mô hình Trung Hoa tập quyển thống nhất, mà thật ra chỉ có sự tồn tại của một mandala Phù Nam, cũng như một mandala Champa, có thể gọi là những liên hiệp tiểu quốc, phức thể Phù Nam, Champa… nhưng có sự đồng nhất nào đó về mỹ thuật, nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo tín ngưỡng”. “Thống nhất trong đa dạng” là thừa nhận những khác biệt, từ những khác biệt đi đến sự hòa hợp với nhau.Nhưng cho đến nay nhiều vấn đề về văn hóa các tộc người ở miền Đông Nam bộ đã được nghiên cứu khá toàn diện nhưng về “Vương quốc Mạ” thì (hình như) vẫn chưa được tiếp tục nghiên cứu. Có lẽ dân tộc/ tộc người gắn với vấn đề nhà nước (dù là sơ khai) là một (trong những) vấn đề “nhạy cảm” nên chưa thể nghiên cứu, hoặc có nghiên cứu thì chưa thể công bố chăng? (Trừ trường hợp tộc người Việt và nhà nước sơ khai Văn Lang – Hùng Vương).GS.Trần Quốc Vượng tại một Hội nghị khoa học (Ảnh Vương Anh)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn