Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913, tại làng Chánh Hiệp, quận Tam Bình (nay là xã Hoà Hiệp, huyện Tam Bình), tỉnh Vĩnh Long.
Lòng yêu nước của ông sớm được hình thành và nuôi dưỡng bởi truyền thống quê hương Vĩnh Long anh hùng, nơi đã sản sinh ra những người con ưu tú làm rạng danh quê hương, đất nước như ca dao có câu:
“Vĩnh Long là xứ địa linh
Đất sinh nhân kiệt, người sinh anh hùng”.
Khi lên 7 tuổi, Phạm Quang Lễ đã khắc sâu lời căn dặn của cha trước lúc mất: “phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình để giúp ích cho đời”. Thấm nhuần lời căn dặn ấy, mà ông đã học tập, lao động và cống hiến trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Đặc biệt, với những biến đổi lớn lao của xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp trong những năm đầu của thế kỷ XX đã đẩy đồng bào ta rơi vào cảnh cơ cực, bần hàn, tủi nhục, thậm chí là đi đến bước đường cùng, không lối thoát. Mới mười tuổi đầu, Phạm Quang Lễ đã hai lần chứng kiến cảnh người dân nhảy cầu tự tử chỉ vì chế độ tàn bạo của thực dân Pháp. Tận mắt chứng kiến và cảm thương trước những thân phận nhỏ bé của người dân nô lệ đã hình thành nên lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc và ý chí mong muốn đánh đuổi thực dân Pháp.
Lòng yêu nước, căm thù giặc ấy lớn dần cùng với nhận thức, ý thức trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước. Khi nhìn vào lịch sử đấu tranh của dân tộc, Phạm Quang Lễ nhận ra rằng dân ta thua là bởi thiếu vũ khí hiện đại. Do đó, ông đã xác định phải học tập thật giỏi để có đủ năng lực tham gia chế tạo vũ khí giúp nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp. Từ đó, ông đã âm thầm thực hiện hoài bão của mình bằng cách chờ cơ hội du học.
Năm 1935, được sự giúp đỡ của Nhà báo Vương Quang Ngươu, Phạm Quang Lễ được cấp một suất học bổng du học tại Pháp, bước đầu mở ra cơ hội cho việc thực hiện hoài bão mà ông đã ôm ấp trong ngần ấy năm.

Chân dung Phạm Quang Lễ trước khi du học ở Pháp, năm 1935
2. Tấm lòng trọn đời vì nghĩa lớn
Chấp nhận sang Pháp du học là đồng nghĩa với việc phải xa gia đình, xa mẹ già và chị gái thân yêu. Đứng trước tình nhà và nghĩa nước, Phạm Quang Lễ cũng chần chừ, do dự. Nhưng được sự thấu hiểu, động viên, khích lệ của mẹ và chị, Phạm Quang Lễ đã quyết đặt nghĩa nước lên trên tình nhà.
Sang Pháp du học, ông đã dồn hết tâm trí, sức lực để thực hiện ước mơ, hoài bão giúp dân, giúp nước bằng cách miệt mài học tập, bí mật tìm tòi, thu thập kiến thức, tài liệu liên quan phục vụ cho công tác nghiên cứu chế tạo vũ khí. Mười một năm ở trời tây, ông đã trang bị cho mình 6 tấm bằng đại học và tương đương đại học cùng với 30.000 trang tài liệu mật về vũ khí và chế tạo vũ khí.
Năm 1946, không một chút phân vân, ông từ bỏ cuộc sống giàu sang, danh vọng nơi đất Pháp với mức lương hiện hưởng mỗi tháng là 5.500 Franc (tương đương 22 lượng vàng lúc bấy giờ) để theo Bác Hồ về nước, theo cách mạng dù biết phải chịu nhiều khó khăn, gian khổ để kháng chiến.
Nhận thấy rằng, trong khói lửa chiến tranh, vũ khí là niềm tin, là động lực và là phương tiện không thể thiếu của biết bao chiến sĩ ở chiến trường. Vì vậy, ông luôn mong muốn tạo ra thật nhiều vũ khí có hoả lực mạnh để cung cấp cho chiến trường Việt Nam. Dù khó khăn, thiếu thốn cả về nhân lực, vật lực, tài lực cộng với môi trường làm việc nguy hiểm nhưng vẫn không làm ông nản lòng, chùn bước, mà trái lại, ông càng làm việc hăng say để cống hiến. Ông cùng các cộng sự đã nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều loại vũ khí hiện đại, ngang tầm thế giới lúc bấy giờ như Súng Bazooka, Súng SKZ, Súng cối, Đạn bay (Bom bay), Đạn chống tăng AT, xe phóng từ trường; cách phá bom bi, cách chống “Cây nhiệt đới”, và chỉ đạo tìm giải pháp chống nhiễu của máy bay B52, để bộ đội ta điều chỉnh tên lửa Sam 2 bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ.



