Giáo sư - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa
Giáo sư - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh 13/09/1913 trong một gia đình ngheo tại làng Chánh Hiệp, huyện Tam Bình (nay là xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh long). Vốn có tư chất thông minh, giàu nghị lực, từ nhỏ Phạm Quang Lễ đã được cha hết mực thương yêu, dạy dỗ chu đáo, lòng tự trọng và niềm đam mê học hành. Cha ông là cụ Phạm Văn Mùi dạy học ở tỉnh Vĩnh long, mẹ là cụ bà Lý Thị Diệu và chị gái là Phạm Thị Nhẫn.
Tuy nhiên, không được bao lâu thì biến cố gia đình ập đến. Khi Phạm Quang Lễ được 6 tuổi, cha qua đời với lời trăn trối: “Lễ phái trở thành trụ cột gia đình, phái lo học hành đến nơi đến chốn...phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời". Lời dặn ấy đã khắc sâu trong tâm trí của Phạm Quang Lễ đến suốt cuộc đời. Sau khi cha mất, mẹ và chị gái nhận thấy không có khả năng tìm được kế mưu sinh nơi thị thành, cả hai đã quyết định về quê làm nông kiếm tiền cho Phạm Quang Lễ ở lại Vĩnh Long tiếp tục việc học hành. Mới 6 tuổi đầu, cậu bé vừa phải chịu nỗi cha, vừa phải chịu cuộc sống xa mẹ xa chị và phải tự lập trong mọi hoạt động sinh hoạt, học tập. Có lần quá nhớ mẹ và chị, Phạm Quang Lễ đã đi bộ hơn hai mươi cây số trời nắng về nhà với một lời phân trần đẫm nước mắt: “Má ơi! Con nhớ má, nhớ chị quá, con chỉ trốn về gặp má, gặp chị một lần thôi rồi mai con sẽ trở lại trường ạ."
Dù tuổi thơ không được trọn vẹn nhưng chính lời răn dạy của cha, nỗi nhọc nhằn của mẹ, sự hy sinh của chị gái đã trở thành động lực giúp Phạm Quang Lễ vượt qua mọi khó khăn, cố gắng học tập để không phụ lòng của những người thân yêu. Phạm Quang Lễ học tiểu học tại trường Internat Primaire (nay là trường THPT Lưu Văn Liệt, phường 1, thành phố Vĩnh Long) với kết quả tốt nghiệp loại ưu và thi đỗ đầu vào trường Colledge De My Tho (nay là trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang). Tại đây ông nhận được học bổng 4 năm liền. Năm 1933, ông theo học tại trường Petrus Ký (nay là trường THPT Lê Hồng Phong, Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh) ở đây ông cũng nhận được học bổng 3 năm liền, thông thường mỗi học sinh phải học 2 năm dự bị Đại học xong mới đến kỳ thi chính thức vào Đại học. Với nỗ lực vượt bậc, năm 1933, ông xuất sắc đỗ thủ khoa cả hai bằng Tú tài Bản xứ và Tú tài Tây. Đây chính là thành tích phi thường vượt bậc của một chàng thanh niên tỉnh lẻ, gia đình khó khăn. Để có được thành tích đó không chỉ đơn thuần vì tư chất thông minh, mà nhờ sự siêng năng, cần cù, ngoài những giờ lên lớp ông còn tự mầy mò tìm hiểu thêm sách báo để bổ sung thêm kiến thức. Do tình hình kinh tế khó khăn, ông đã không đủ khả năng học tiếp và đã quyết định quay về Mỹ Tho nộp đơn xin vào làm việc ở tòa sứ Pháp và ôm ấp một hoài bão được sang Pháp du học. Những cuộc biểu tình to, nhỏ nổ ra ở khắp nơi, người dân bi quẫn, lầm than, khổ đến tột cùng dưới sự áp bức của thực dân Pháp. Đó cũng là lý do ông nuôi chí hướng cho cuộc đời mình là trở thành một người nghiên cứu chế tạo vũ khí. Muốn thắng kẻ thù thì bên cạnh những lo toan về chính trị, phải có những người lo về quân sự, về khoa học và vũ khí. Cách mạng thành công thì người dân mới bớt khổ.
Đến năm 1935, ước mơ của Phạm Quang Lễ cũng trở thành hiện thực, ông được nhà báo Vương Quang Ngươu, một việt kiều Pháp về, làm việc tại Tòa bố chính Mỹ Tho, đã giúp đỡ cho ông một xuất học bổng một năm đi học ở Pháp (Năm 1935 - 1936) vì nhận thấy ông là một thanh niên có tài năng và chí lớn. Vậy là con đường nghiên cứu chế tạo vũ khí của Phạm Quang Lễ bắt đầu từ đây. Đến Paris một năm, ông chỉ có duy nhất một năm học bổng (thông thường mỗi học sinh phải học hai năm dự bị mới được học chính thức), vì vậy ông dồn hết tâm sức, sắp xếp thời gian để rút ngắn hai năm thành một, quyết tâm thi đỗ vào trường đại học để được cấp học bổng tiếp tục học lên cao. Mùa thu năm 1936, sau chín tháng học xong khóa dự bị, ông thi đỗ vào trường Đại học Quốc gia cầu đường Paris và được cấp học bổng học tiếp. Hai năm ở Paris với quyết tâm cao trong học tập, Phạm Quang Lễ đã đạt được thành quả bước đầu. Ông muốn học về kỹ thuật dân dụng, ông còn tìm cách học về kỹ thuật chế tạo vũ khí, ông tự nhủ đó là nghĩa vụ thiêng liêng với tổ quốc. Ông đã bí mật học hỏi, kiên trì, kín đáo việc nghiên cứu, sưu tầm tài liệu về các loại vũ khí. Muốn tiếp cận được những tài liệu đó mà không bị nghi ngờ, theo dõi, tốt nhất là phải có các bằng kỹ sư chuyên ngành và phải giỏi toán học, hóa học, cơ học và kỹ thuật, nên ngoài việc học ở Đại học Cầu đường, ông còn thi lấy bằng cử nhân khoa học ở trường Đại học Xoox – bon (Sorbonne), bằng kỹ sư tại trường Điện, bằng kỹ sư Hàng không tại Học viện Kỹ thuật Hàng không đồng thời lấy chứng chỉ ở trường Bách Khoa, Đại học mỏ Địa chất. Có được những chứng chỉ này, ông dễ dàng tiếp sức được với các giáo sư chuyên ngành nổi tiếng để tìm tài liệu. Hơn nữa, ông cũng dễ dàng tìm được việc làm ở những công ty kỹ thuật chuyên ngành, có lợi cho mục tiêu của ông. Ngoài ra ông còn tự học tiếng Đức để đọc các tài liệu từ nguyên bản của Đức. Sau khi tốt nghiệp ông làm việc hai năm tại công ty điện Thomson chuyên sản xuất các loại biến thể điện, ở đây ông nắm bắt được nhiều bổ ích, tích lũy kinh nghiệm về điện, điện từ trường, điện biến thế thiết kế chế tạo khí tài quân sự, kỹ thuật điều khiển từ xa…
Với thành tích học tập cao và nhận xét tốt của công ty Thomson ông được nhận vào làm tại phòng thiết kế của công ty chế tạo máy bay là một bộ phận rất quan trọng, có quy chế nghiêm mật. Tại đây ông được đọc những tài liệu kỹ thuật, những tập hồ sơ nói về lĩnh vực vũ khí, khí tài trên máy bay, các loại sáng chế tạo và sử dụng các loại súng cao xạ, bom mìn, súng bộ binh. Lúc này ông đã sử dụng bộ óc thiên tài của mình ghi nhớ lại vào những thời điểm thuận lợi làm phong phú thêm số tài liệu mà ông đã thu thập. Để phòng trường hợp bị thất lạc tài liệu thì vẫn xoay sở được.
Năm 1942, ông xin vào làm việc tại nhà máy chuyên chế tạo máy bay ở tỉnh Halle, miền trung nước Đức. Thời gian tuy ngắn nhưng ông đã nắm bắt được một số kỹ thuật mới và học được phương pháp tổ chức rất khoa học của Đức.
Năm 1946, người thanh niên ấy không một chút do dự từ bỏ công việc với mức lương tháng là 5.500 France (tương đương 22 lượng vàng lúc bấy giờ), Phạm Quang Lễ theo Bác Hồ trở về tổ quốc tham gia kháng chiến kiến quốc của dân tộc. Đến ngày 05/12/1946, Phạm Quang Lễ vinh dự được Bác Hồ đặt cho tên mới là “ Trần Đại Nghĩa" và cái tên Bác Hồ đặt cho ông năm đó đã đi vào lịch sử về ngành chế tạo vũ khí của Việt Nam. Dù khó khăn, thiếu thốn cả về nhân lực, vật lưc, tài lực cộng với môi trường làm việc nguy hiểm nhưng vẫn không làm nản lòng, chùn bước, mà trái lại, ông càng làm việc hăng say để cống hiến. Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên chiến khu Việt Bắc cùng các cộng sự của mình trực tiếp chỉ đạo sản xuất các loại vũ khí hiện đại, ngang tầm thế giới lúc bấy giờ như: Súng Bazooka, súng SKZ, súng cối, đạn bay (Bom bay), đạn trống tăng AT, xe phóng từ trường, cách phá bom bi, cách cống “cây nhiệt đới", và chỉ đạo tìm giải pháp chống nhiễu của máy bay B52, để bộ đội ta điều chỉnh tên lửa Sam II bắn rơi pháo đài bay B52 của Mỹ.
Để cho ra đời những sản phẩm vũ khí hiện đại, góp phần quyết định vào thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngoài tư chất thông minh, sự sáng tạo trên cơ sở nền tảng kiến thức mà ông đã bí mật, bền bỉ nghiên cứu trong 11 năm ở Pháp và Đức, thì yếu tố không nhỏ góp phần quyết định chính là lòng yêu nước, sự tận tâm trong công việc, với tấm lòng trọn đời vì nghĩa lớn đúng với cái tên gọi và bí danh mà Bác Hồ đã đặt cho ông “Trần Đại Nghĩa".
Năm 1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt đầu tiên. Năm 1949, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1952, ông được tặng huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu anh hùng lao động. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông làm chủ nhiệm Ủy ban xây dựng cơ bản Nhà nước, ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước, Viện trưởng viện Khoa học Việt Nam.
Năm 1966 ông đảm nhiệm chức vụ phó chủ nhiệm tổng cục hậu cần, phụ trách về kỹ thuật quốc phòng. Thời gian này ông đã lãnh đạo cán bộ kỹ thuật cải tiến nâng tầm bắn của tên lửa Sam II (do Liên Xô sản xuất), tiêu diệt được siêu pháo đài bay B52 của Mỹ trên bầu trời Hà Nội bằng chính những tên lửa Sam II của Liên Xô. Khiến cả thế giới phải thán phục về quân sự của Việt Nam.
Ngày 30/04/1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ông đã ghi trong nhật ký của mình: “Nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành, vì hoài bão của tôi hồi nhỏ, sứ mệnh của tôi rất đơn giản là tham gia về mặt khoa học, kỹ thuật vũ khí trong cuộc đấu tranh cách mạng để giải phóng đất nước, và nay đất nước đã được giải phóng, tôi không muốn gì hơn nữa, vì một đời không thể làm hơn". Ông có ý định muốn nghỉ hưu. Thế nhưng, tiếp tục chấp hành sự phân công của Chính phủ, mà hơn hết vẫn là mong muốn được góp sức phục vụ quê hương, ông làm chủ tịch Hội liên hiệp khoa học và kỹ thuật Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Công thương, Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Đại biểu Quốc hội khóa II và III, Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô và Cộng hòa dân chủ Đức.
Ngày 09/08/1997, Ông lâm bệnh và qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh. Dù hoạt động trong nhiều lĩnh vực với các cương vị, chức vụ công tác khác nhau, dù bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, Giáo sư - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã cống hiến trọn vẹn cho khoa học và trên hết là cho tất cả dân tộc Việt Nam. Đối với chúng ta ông là một huyền thoại trong việc chế tạo vũ khí quân sự. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi còn sống đã gọi Trần Đại Nghĩa là: “ông phật chế tạo vũ khí".



