Giáo sư- Viện sĩ Trần Đình Long – Nhà khoa học vì cuộc sống
Trước những ăm ắp thông tin, tôi tự nhủ lòng “Đây là một nhân vật đáng “gờm”, mình cần phải chuẩn bị kỹ càng và chu đáo”. Nhưng trái với những gì đã lo lắng, với giọng nói đậm đà chất Bình Định, phong thái hiền hậu, nhẹ nhàng và lối nói chuyện khúc triết, hóm hỉnh, vị giáo sư vào tuổi “xưa nay hiếm” đã khiến người trò chuyện luôn cảm thấy gần gụi, dễ chịu và rất đỗi thân thuộc
Một trí thức anh hùng
Hơn nửa thế kỷ xa quê, đã từng chu du nhiều nước trên thế giới, thành thạo nhiều ngoại ngữ, nhưng chất giọng Bình Định của Giáo sư Trần Đình Long vẫn không lẫn vào đâu được. Giáo sư - Viện sĩ - Tiến sĩ khoa học Trần Đình Long (sinh năm 1938, quê ở xã Cát Chánh, nay thuộc xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) là một nhà khoa học xuất sắc, có nhiều cống hiến cho nền khoa học Việt Nam. Ông không chỉ là niềm tự hào của quê hương Bình Định, mà còn là niềm hãnh diện của những người thân, của bạn bè, của những người đã từng làm việc với ông trên khắp dải đất hình chữ S vì những cống hiến to lớn của ông cho xã hội. Giáo sư Trần Đình Long được kính trọng không phải chỉ trong tư cách là một nhà khoa học, mà còn được được tôn vinh như một nhân cách lớn.
Năm 1954, khi vừa tròn 16 tuổi, giáo sư Long rời quê hương tập kết ra Hà Nội và được tuyển chọn để học ở một lớp học đặc biệt dành cho học sinh miền Nam. Khi đang là sinh viên năm thứ 3 của khóa 1, Khoa Cơ điện Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trần Đình Long được chọn đi học ở Trường Đại học Năng lượng Matxcova để sau này trở thành cán bộ giảng dạy. Tốt nghiệp, ông về nước làm giảng viên, rồi đến năm 1969, ông quay lại Trường Đại học Năng lượng Matxcơva để bảo vệ thành công luận Phó tiến sĩ ngành Hệ thống điện. Cũng tại đây, năm 1974 ông đã bảo vệ xong luận án Tiến sĩ khoa học... Kể từ đó, cuộc đời ông gần như gắn liền với Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và ngành Điện nói chung...
Trong số vô vàn những cống hiến của Giáo sư, có hai công trình khiến ông vô cùng thích thú và cũng chính nhờ nó mà GS.VS. Trần Đình Long được mệnh danh là một nhà khoa học vì cuộc sống. Đó là đường dây 500 kV với vai trò là Kiến trúc sư trưởng và Luật Điện lực với vai trò là Tổ trưởng Tổ công tác soạn thảo.
Ý tưởng xây dựng công trình đường dây 500 kV này được hình thành khi ông nghiên cứu về công trình thủy điện Hòa Bình, để chuẩn bị cho luận án Tiến sĩ khoa học ở Liên Xô (1974). Đến năm 1992, trước thực tế thiếu điện nghiêm trọng ở miền Nam và miền Trung gây những ảnh hưởng xấu cho nền kinh tế, sản xuất, đời sống, an sinh xã hội, trong khi đó thủy điện Hòa Bình lại thừa điện năng, phải xả nước để giảm công suất. Tình thế đã trở nên cấp bách, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã quyết định cho khởi công xây dựng đường dây 500 kV để chuyển điện vào phía Nam. Giáo sư Long được giao nhiệm vụ làm cố vấn kỹ thuật cho Bộ Năng lượng (nay là Bộ Công Thương) thực hiện dự án này.
Về mặt kỹ thuật, đường dây 500 kV là một công trình vĩ đại, rất khó triển khai vì chiều dài đường dây lên đến 1.500 km, trải dài theo nhiều dạng địa hình khác nhau, cực kỳ phức tạp mà trên thế giới, chưa quốc gia nào có! Kinh phí lại quá lớn, 500 triệu USD sẽ khiến Nhà nước phải dốc gần như toàn bộ ngân khố quốc gia. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế của nó như thế nào chưa ai dám chắc. Đã có rất nhiều “Hội nghị Diên Hồng” được tổ chức để lấy ý kiến trước khi đưa ra quyết định. “Thưa Giáo sư, nghe nói hồi đó, tình thế căng thẳng đến nỗi Thủ tướng Võ Văn Kiệt chủ trì cuộc họp đã phải nói rằng: Ai ủng hộ đứng sang một bên, ai không ủng hộ đứng sang một bên?...” Giáo sư hóm hỉnh: “Thực ra đây là một quyết định cực kỳ khó khăn, nếu không phải là những chuyên gia am hiểu tường tận ngành Điện thì không thể có những suy nghĩ mạnh dạn để ủng hộ. Thủ tướng lúc đầu cũng rất phân vân. Nhưng sau khi được nghe ý kiến của các chuyên gia và thấy rằng, nếu làm lần lượt từng chặng không biết bao giờ mới xong, nhưng nếu đồng loạt khởi công ở nhiều chặng, sau đó ráp nối với nhau thì tiến độ sẽ nhanh và hiệu quả hơn... thì Thủ tướng đã nhất trí”. Thế là sau 2 năm vượt qua nhiều khó khăn về kỹ thuật cũng như kinh tế, công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng. Đến nay, thực tế chứng minh dự án là đúng. Không những thế, từ công trình này, Việt Nam đã có một lớp kỹ sư vận hành ngành Điện vững vàng, được đào tạo cả ở trong và ngoài nước. Sau hơn 10 năm vận hành, công trình này đã giải quyết được vấn đề thừa, thiếu điện cũng như liên kết hệ thống điện trong cả nước. Sự đúng đắn của nó còn được khẳng định hơn, bởi sau đó, Chính phủ đã phê duyệt dự án làm thêm nhiều đường dây tải điện tương tự. Ngẫm lại thời đó thấy khó khăn gian khổ, nhưng đây cũng chính là một trong những giai đoạn hào hùng, sục sôi nhất của ngành Điện.



