Giáp Văn Cương - Dấu chân người Tư lệnh giữa trùng khơi Trường Sa

Trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, nguyên Phó cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, người có 20 năm gắn bó với Trường Sa (1975-1995), một trong những người để lại ấn tượng sâu đậm nhất chính là Đô đốc Giáp Văn Cương, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân.
Dù đã sống ở Thủ đô gần nửa thế kỷ, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh vẫn giữ giọng nói đậm chất xứ Nghệ. Khi nhắc về người Tư lệnh mà ông nhiều lần cùng công tác giữa biển khơi, ông không giấu được niềm xúc động:
“Sau khi đất nước thống nhất, tôi nhận nhiệm vụ đi công tác thực địa tại quần đảo Trường Sa và các vùng biển nước ta ở Biển Đông. Trong thời gian đó, tôi có rất nhiều lần đi cùng đồng chí Giáp Văn Cương. Con người này thật đặc biệt với những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của Hải quân nhân dân Việt Nam”.
Sau khi đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Giáp Văn Cương dành nhiều tâm huyết nghiên cứu thực tiễn, đề xuất xây dựng lực lượng hải quân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Ông chỉ đạo xây dựng các trung đoàn, lữ đoàn cơ động trực thuộc Quân chủng thành những đơn vị thiện chiến; xây dựng các căn cứ, vùng hải quân, các đơn vị bảo đảm kỹ thuật trên bờ; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của từng vùng trong quản lý, bảo vệ khu vực biển được phân công.
Trong những vấn đề được ông đặc biệt quan tâm có công tác huấn luyện. Người lính hải quân phải được rèn luyện để có thể tự lực, tự cường, khai thác và làm chủ vũ khí, trang bị, từ đó làm chủ biển, đảo của Tổ quốc.
Không chỉ chỉ huy từ đất liền, Giáp Văn Cương thường xuyên trực tiếp ra Trường Sa. Đầu năm 1978, ông cùng một số cán bộ Quân chủng Hải quân ra quần đảo, cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với cán bộ, chiến sĩ trên các đảo. Nhiều ngày đêm, ông trực tiếp khảo sát những khu vực bãi ngầm, bãi cạn, đo độ nông sâu của các bãi, đảo thuộc khu vực thềm lục địa. Ông ví thềm lục địa phía Nam như “sân”, như “thềm” của căn nhà Việt Nam và cho rằng phải có chiến lược lâu dài để bảo vệ biển, đảo.
Chính trong chuyến công tác ấy, tại đảo Hòn Sập, câu chuyện về Trung úy Nguyễn Phan Vinh, Thuyền trưởng Tàu 235, Đoàn 125, nay là Lữ đoàn 125 Hải quân, đã để lại trong ông một ấn tượng sâu sắc.
Đầu năm 1968, trong một chuyến vận chuyển vũ khí vào Nam, Tàu 235 gặp lực lượng tàu tuần tiễu của hải quân đối phương bao vây. Nguyễn Phan Vinh cùng đồng đội quyết tâm chiến đấu, không để con tàu và nhiệm vụ rơi vào tay địch. 14 cán bộ, chiến sĩ của con tàu đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi.
Xúc động kể lại câu chuyện về người thuyền trưởng dũng cảm cho bộ đội, Tư lệnh Giáp Văn Cương đề xuất đổi tên đảo Hòn Sập thành đảo Phan Vinh. Từ đó, tên người chiến sĩ hải quân đã hy sinh giữa biển khơi được đặt cho một đảo thuộc quần đảo Trường Sa, như một sự ghi nhớ đối với người đã hiến dâng tuổi trẻ và cuộc đời cho Tổ quốc.
Trong 9 năm làm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, năm nào Giáp Văn Cương cũng ra các đảo. Hình ảnh vị Tư lệnh trong bộ quân phục bạc màu, xắn quần quá đầu gối, lội từ bãi này sang bãi khác ở Trường Sa để kiểm tra thực địa đã trở nên quen thuộc với cán bộ, chiến sĩ.
Sóng to, bão lớn không ngăn được bước chân người Tư lệnh. Có những lúc biển động, nhiều cán bộ đề nghị ông không nên ra biển, nhưng ông vẫn quyết định lên đường để vừa kiểm tra tình hình, vừa động viên bộ đội yên tâm thực hiện nhiệm vụ.
Trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, hình ảnh Giáp Văn Cương lên thăm từng nhà giàn, gặp gỡ, ôm từng chiến sĩ như người thân trong gia đình là hình ảnh không thể nào quên.
Năm 1986, với nhãn quan chính trị và sự quan tâm sâu sắc đến nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo, Giáp Văn Cương chỉ đạo Quân chủng Hải quân phối hợp với cơ quan Bộ Tổng Tham mưu khảo sát hầu hết các đảo nửa chìm, nửa nổi thuộc quần đảo Trường Sa.
Qua thực tiễn khảo sát, ông nhận định trong tương lai gần, khu vực Trường Sa sẽ khó có được sự bình yên. Thực tế sau đó cho thấy những diễn biến căng thẳng đã xảy ra tại khu vực này vào đầu năm 1988.
Sau sự kiện chiến đấu bảo vệ Trường Sa năm 1988, Giáp Văn Cương tiếp tục đề xuất nhiều chủ trương có ý nghĩa chiến lược, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của Hải quân nhân dân Việt Nam và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Trong những năm tháng ấy, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh và Tư lệnh Giáp Văn Cương cùng các cán bộ Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân nhiều lần vượt những con sóng bạc đầu ra các đảo giữa trùng khơi. Họ đến để chia sẻ với chiến sĩ, lắng nghe chỉ huy từng đảo, từng con tàu, cùng tìm phương án bảo vệ từng đảo và cả quần đảo.
Từ Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Trường Sa Lớn, An Bang đến các nhà giàn DK1 như Tư Chính, Huyền Trân, Ba Kè..., dấu chân những người làm nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo ngày càng in đậm giữa trùng dương.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh vẫn nhớ rõ cảm xúc khi đặt chân lên từng đảo, tận mắt chứng kiến cuộc sống và nhiệm vụ của những người lính Trường Sa, những chiến sĩ nhà giàn DK1 và các biên đội tàu Hải quân. Đó là sự cảm kích trước những con người ngày đêm âm thầm chịu đựng gian khổ, xa đất liền để giữ biển, giữ đảo.
Đặc biệt, ngày 7-5-1988, nhân kỷ niệm 33 năm Ngày thành lập Quân chủng Hải quân, tại đảo Trường Sa Lớn, trong cuộc mít tinh của quân và dân trên đảo, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã tuyên bố lời thề quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của đất nước.
Lời thề ấy được Tư lệnh Giáp Văn Cương yêu cầu các đơn vị trong toàn Quân chủng quán triệt và thực hiện nghiêm túc. Với cán bộ, chiến sĩ Hải quân, đó không chỉ là một lời tuyên thệ, mà còn là sự nhắc nhở về trách nhiệm trước Tổ quốc, trước những người đã hy sinh và trước các thế hệ mai sau.
Nhìn lại những năm tháng ấy, hình ảnh Đô đốc Giáp Văn Cương hiện lên qua ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh không phải chỉ là hình ảnh một vị Tư lệnh trên cương vị chỉ huy. Đó còn là một người lính luôn có mặt nơi gian khó nhất, trực tiếp đặt chân lên những đảo xa, lội qua những bãi đá, đến từng nhà giàn, gặp từng chiến sĩ và cùng họ tìm cách giữ từng tấc biển, từng hòn đảo.
Giữa trùng khơi mênh mông, những chuyến đi của người Tư lệnh năm nào đã để lại những dấu chân không dễ phai mờ. Đó là dấu chân của một thế hệ cán bộ Hải quân đã dành nhiều tâm sức xây dựng lực lượng, khảo sát biển đảo, chăm lo cho người lính và từng bước hình thành những chủ trương bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong điều kiện mới.
Và trong ký ức của những người từng đồng hành cùng ông, hình ảnh Giáp Văn Cương vẫn như hiện hữu giữa biển trời Trường Sa: bộ quân phục bạc màu, đôi chân lội qua sóng nước, ánh mắt hướng về những đảo xa – nơi những người lính Hải quân ngày đêm đứng gác, giữ gìn chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.



