Bài viết

Gìn giữ và phát huy di sản tinh thần Phạm Hữu Lầu

Những đóng góp và phẩm chất của đồng chí Phạm Hữu Lầu tiếp tục có giá trị trong giáo dục truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức và nhân cách cho thế hệ hôm nay.

Nghệ An18/09/2026Cao đẳng Tiền Giang (Trường Cao đẳng Tiền Giang)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mở đầu từ quê hương: Đồng chí Phạm Hữu Lầu, bí danh Tư Lộ, sinh năm 1906 tại làng Hòa An, tổng An Tịnh, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc phường Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Từ năm 1923, khi mới 17 tuổi, đồng chí đã tham gia hoạt động yêu nước; năm 1929 trở thành người cộng sản và đến khi qua đời ngày 16-12-1959, đồng chí đảm nhận nhiều cương vị lãnh đạo cao cấp của Đảng.

Kiên cường trong lao tù: Tháng 7-1930, trên đường ra Bắc dự cuộc họp trù bị chuẩn bị Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, đồng chí bị địch bắt. Trước những thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ và tra tấn, đồng chí vẫn kiên quyết không khuất phục, bị kết án tù chung thân và đày ra Côn Đảo.

Những bước đi đầu tiên: Mùa thu năm 1927, đồng chí được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và được cử làm Chi hội trưởng tổ chức đầu tiên của Hội tại Cao Lãnh. Đồng chí lãnh đạo Nhân dân đấu tranh chống cường quyền, phát triển nhanh lực lượng, đến tháng 6-1929 có hơn 40 hội viên.

Hoạt động trong phong trào công nhân: Cuối năm 1929, đồng chí được phân công đi “vô sản hóa”, xây dựng phong trào công nhân tại Đề-pô xe lửa Dĩ An. Cùng đồng chí Nguyễn Đức Thiệu, đồng chí tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản cho công nhân; nhiều người được giác ngộ, Chi bộ Đảng và Công hội đỏ của xí nghiệp được thành lập.

Trở lại hoạt động cách mạng: Năm 1936, ra tù, đồng chí trở về đất liền, bắt liên lạc với Đảng và được phân công làm Ban Cán sự Đảng của Báo Dân Chúng ở Sài Gòn. Đồng chí vận động Nhân dân đấu tranh đòi tự do, dân chủ; ngày 28-11-1937 diễn thuyết trước hơn 3.000 người tại rạp hát Thành Xương.

Gắn bó với quê hương: Bị trục xuất khỏi Sài Gòn và đưa về quản thúc tại Cao Lãnh, đồng chí nhanh chóng liên lạc với cơ sở cách mạng địa phương, tổ chức đấu tranh đòi tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, vận động ký tên ủng hộ phong trào “Đông Dương đại hội”, tổ chức các hội quần chúng và phát triển đảng viên.

Lần thứ hai bị đày Côn Đảo: Ngày 27-11-1940, đồng chí bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Trong thời kỳ địch khủng bố ác liệt, đồng chí vẫn giữ vững ý chí, hăng say học tập và giúp đỡ anh em tù nhân khi bị đánh đập, đau ốm.

Đảm nhận nhiều cương vị: Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 23-9-1945, đồng chí trở về đất liền. Tháng 10-1945, đồng chí được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Sa Đéc, rồi lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ như Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Sa Đéc, Khu ủy viên, Phó Bí thư Khu ủy Khu 8, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ, Giám đốc Sở Công an Nam bộ và phụ trách Sở Thương binh - Xã hội.

Lãnh đạo Xứ ủy Nam bộ: Tháng 10-1954, đồng chí được bầu làm Phó Bí thư Xứ ủy Nam bộ. Từ năm 1954 đến cuối năm 1956, đồng chí hoạt động tại Sài Gòn. Khi Xứ ủy chuyển trụ sở về Phnôm Pênh, sau Hội nghị Xứ ủy Nam bộ lần thứ hai, đồng chí Lê Duẩn ra miền Bắc, đồng chí Phạm Hữu Lầu làm quyền Xứ ủy, Bí thư Xứ ủy.

Những phẩm chất cao quý: Đồng chí là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng: tuyệt đối trung thành với Đảng, hết lòng vì Nhân dân, sống giản dị, khiêm tốn và giàu tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Nhiều câu chuyện ghi lại việc đồng chí từ chối ra Bắc chữa bệnh, ở lại miền Nam cùng tập thể Xứ ủy lãnh đạo phong trào trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn.

Gần dân, vì dân: Hình ảnh người lãnh đạo đội nón lá, chèo xuồng đi “thăm nghèo, hỏi khổ” được Nhân dân Nam bộ truyền tụng. Với vai trò cán bộ chủ chốt của Xứ ủy, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo phong trào đấu tranh giữ gìn lực lượng trong hoàn cảnh địch thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”.

Đóng góp trong phương thức đấu tranh: Trong thời kỳ phong trào cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, đồng chí cùng tập thể Xứ ủy phát huy tinh thần chủ động, vận dụng linh hoạt sự chỉ đạo của Trung ương, từng bước chuyển từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang đấu tranh chính trị có võ trang tự vệ, xây dựng lực lượng vũ trang gắn với đấu tranh vũ trang có mức độ.

Di sản để lại: Đồng chí Phạm Hữu Lầu mất ngày 16-12-1959 tại Campuchia, ở tuổi 53, khi đang cống hiến ở mức cao nhất cho cách mạng. Tháng 5-2024, Bộ Chính trị công nhận đồng chí là lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam. Hội thảo khoa học tổ chức tháng 12-2025 tại phường Cao Lãnh góp phần làm rõ thân thế, sự nghiệp, phục vụ biên soạn tiểu sử và giáo dục truyền thống.

Ý nghĩa hôm nay: Dù tư liệu về thời kỳ hoạt động bí mật còn chưa nhiều, những gì được ghi nhận vẫn cho thấy hình ảnh một người đảng viên cộng sản ưu tú, gương mẫu về khiêm tốn, tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm, lấy phụng sự Tổ quốc và Nhân dân làm lý tưởng sống.

Trọng trách của Đảng: Ngày 7-11-1929, tại Khánh Hội, Sài Gòn, Đại hội đại biểu An Nam Cộng sản Đảng bầu Ban Chấp hành Trung ương lâm thời gồm 5 người, trong đó có đồng chí Phạm Hữu Lầu. Từ tháng 2 đến tháng 7-1930, đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, có nhiều hoạt động và ý kiến chỉ đạo đối với phong trào cách mạng Nam Kỳ và quê hương Sa Đéc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Gìn giữ và phát huy di sản tinh thần Phạm Hữu Lầu | Câu chuyện thời hoa lửa