Giờ chót của chiến tranh
Đầu tháng 4-1975, đoàn cán bộ Thành Đoàn chúng tôi gồm bảy người từ Đồng Tháp tiến về Sài Gòn rồi nhập vào Bộ Chỉ huy tiền phương Nam tại xã Long Định (Tiền Giang), tới địa phận đồng cỏ lác huyện Bình Chánh sát nội đô thì dừng lại chờ mệnh lệnh.
Tối hôm đó, nhìn phía sân bay Tân Sơn Nhất nhấp nháy ánh đèn trực thăng di tản như đàn ong vỡ tổ. Vùng này đất sình, lại bị cơn mưa đầu mùa nên không chỗ nào khô ráo.
Sáng 30-4, Đài phát thanh Sài Gòn vang lên ca khúc Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Bộ Chỉ huy ra lệnh tiến vào nội đô Sài Gòn qua ngã Bà Hom: Không ai được vứt ruột tượng gạo, dọn dẹp sạch sẽ rác thải trên đồng ruộng, chỉnh đốn trang phục chỉnh tề để vào tiếp quản TP".
Đoàn Bộ Chỉ huy tiền phương đi ô tô, có giao liên dẫn đường đến Trường Pétrus Ký (nay là Lê Hồng Phong) nằm cạnh Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn vào khoảng 4h chiều.
Tôi nhớ chú Mai Chí Thọ (Năm Xuân) vào cổng trường, có một viên chức tiếp đón. Chú Năm Xuân bắt tay và nói "Chào thầy" rồi nhẹ nhàng đi cùng như hai thầy giáo.
Má tôi kể lại: Ngày 10-4-1975, nửa đêm cảnh sát ập vào nhà tôi lục soát. Số là lúc chập choạng tối, ông Tám Cần (tức Tạ Bá Tòng - phụ trách Ban Trí vận mặt trận thuộc Thành ủy Sài Gòn - Gia Định) xuất hiện tại nhà tôi, cho biết đang bị truy lùng nên phải tạm lánh.
Chị Trần Kim Thảo, con của cậu tôi, đưa chú vào hầm bí mật dưới gầm bếp nấu ăn, che bằng đống củi. Sáng hôm sau ông Tám Cần chui qua căn hộ kế bên và được ông Ba Quang chở đi, trốn thoát.
Cảnh sát giam chị Thảo tại phòng biệt giam để điều tra. Sáng 30-4, chị Thảo không thấy cai ngục, đến gần trưa cũng không thấy.
Phòng cạnh bên giam học sinh sinh viên đấu tranh, họ công kênh nhau nhìn qua khe thông hơi trên trần biệt giam. Đường phía Trường Pétrus Ký không thấy bóng học trò.
Xế trưa 30-4, một người bộ đội mang khẩu B.40 xộc vào dãy phòng biệt giam tìm cách mở khóa. Phòng chị Thảo có mấy anh bộ đội nóng ruột dùng thanh sắt đập làm cho ổ khóa biến dạng nên không mở bằng chìa được nhưng cuối cùng rồi cũng nạy bung ra...
Sáng hôm sau tôi đi xe đạp, lận cây súng ngắn trong lưng, đạp xe về nhà. Đến nhà, tôi đứng tần ngần hồi lâu trước cửa, đầu óc nửa tỉnh nửa mơ vì bảy năm tôi bị truy nã phải sống bằng giấy giả rồi về căn cứ.
Tôi kêu: "Má ơi!". Má tôi chạy ra la thất thanh: "Thằng Tân nó về nè! Thằng Tân nó về nè!".
Má ôm chầm lấy tôi nhưng không khóc. Hình như đau khổ, chịu đựng quá nhiều rồi, không còn hơi sức đâu mà khóc nữa. Nhà tôi có nhiều người thân trong nhà đi kháng chiến chưa về, có người đi mãi mãi không về.



