Giờ phút cuối cùng của các anh Tô Ân, Trần Tuấn
Đã hơn 42 năm trôi qua nhưng mỗi lần nhớ về thời khắc hy sinh của các anh, những người đồng chí, đồng nghiệp yêu quý ở Báo Quân đội nhân dân, tôi lại không kìm được nước mắt...
Đã hơn 42 năm trôi qua nhưng mỗi lần nhớ về thời khắc hy sinh của các anh, những người đồng chí, đồng nghiệp yêu quý ở Báo Quân đội nhân dân, tôi lại không kìm được nước mắt. Nhà báo chiến sĩ lúc tác nghiệp cũng như người lính trên chiến trường, luôn sẵn sàng đối mặt với sự hy sinh, nhưng trực tiếp chứng kiến giây phút đồng chí của mình từ giã cuộc sống, trực tiếp vùi thi thể đồng đội vào lòng đất, với tôi đó là những ký ức như vừa mới xảy ra…
Lần đi Lào ấy là một chuyến đi gấp rút để đón tin chiến thắng đang diễn ra ở chiến trường Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng, trong đó có việc viết về tù binh bị bắt trong chiến dịch “Z”.
|
Liệt sĩ Tô Ân. Ảnh tư liệu. |
Chúng tôi lên xe sáng 18-1-1972. Gấp, vội nhưng Trưởng phòng Tô Ân đã cho đưa lên xe những thứ cần thiết như bếp dầu, phích nước, dụng cụ nồi niêu xoong chảo, dao, xẻng, cuốc… để dừng xe ở bất cứ ở đâu cũng có thể nấu ăn được rồi tiếp tục lên đường cho nhanh.
Trên xe, bên cạnh anh Tô Ân và tôi, còn có các anh Trần Tuấn, Văn Uyển, Lê Thu, là những đầu bếp chiến trường thành thạo. Anh Tô Ân lúc bấy giờ là Trung tá, quyền Trưởng phòng Biên tập Quân sự. Anh sinh năm 1928, tại xã Xuân Cầu, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Còn Trần Tuấn, tên thật là Trần Đức Tuấn, sinh năm 1935, tại xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Trước lúc hy sinh, anh là Trung úy, phóng viên Phòng Biên tập Quân sự. Chúng tôi công tác cùng phòng nên coi nhau như anh em một nhà, sướng khổ vui buồn gì đều có nhau.
Đêm xe dừng lại thị trấn Diễn Châu, sáng lên đường sớm. Bắt đầu từ đây, xe chúng tôi đi trên con đường số 7 đến thị trấn Đô Lương thì xuống phà qua sông Lam, qua sân bay Dừa, đi tiếp Con Cuông, qua Cửa khẩu Mường Xén sang Lào…
Chúng tôi ở Phòng biên tập Quân sự nên đều biết có sân bay Dừa-nơi đây đã từng cứu nhiều máy bay và phi công ta sau khi đánh tập kích bất ngờ vào đội hình lớn của máy bay Mỹ, đã thoát hiểm hạ cánh. Sân bay có đường băng cất cánh hạ cánh lộ thiên, nhưng máy bay đều được che giấu dưới hầm đào sâu trong núi. Hầm chứa máy bay ở sân bay Dừa cao 5,5m, dài 100m, chứa được 4 máy bay.
Biết có sân bay Dừa nhưng chưa hề đến, nên chỉ khi xe phải dừng lại trước ba-ri-e mới biết sắp qua sân bay nằm cạnh đường số 7.
Ba-ri-e ngáng đường được kéo lên, xe tiếp tục cuộc hành trình một lúc thì đột nhiên có tiếng máy bay, rồi một tốp máy bay đi đầu sà xuống, bắn tên lửa, sau đó là từng tốp, từng tốp máy bay sà xuống bắn tiếp theo hướng xe đang chạy, khói bụi tung mịt mù…
Tình huống khẩn cấp, anh em chúng tôi có mặt trên xe phần lớn đã từng sống qua cảnh máy bay địch đánh đuổi trên đường Trường Sơn. Gặp trường hợp này phải cho xe chạy, dừng lại là nguy hiểm. Mục tiêu di động khó bắn trúng! Mà trúng chưa chắc đã chết!
Rốc-két, tên lửa… rồi đến lượt bom khoan. Đường số 7 độc đạo phút chốc bi bom khoan từng dãy hố sâu. Đột nhiên xe dừng lại.
- Xuống xe, tạt sang hướng bờ sông…
|
Liệt sĩ Trần Tuấn. Ảnh tư liệu. |
Tôi là người xuống xe cuối cùng sau anh Trần Tuấn, chạy về hướng nông giang. Anh Trần Tuấn băng qua lửa đạn, nằm dưới nông giang, bên trên là chiếc cầu bằng tấm đúc bê tông. Tôi liền nằm xuống cạnh anh. Bục!... một tiếng nổ âm trong lòng đất, lửa khói phụt lên.
- Tuấn! Tuấn!...
Tôi gọi nhưng không tiếng trả lời. Vốn tính anh Trần Tuấn trầm lắng, thường hay pha trò bằng điệu bộ… Tôi nghĩ là anh trêu tôi, nhưng khi khói bụi tan đi, tôi nhìn sang anh, toàn thân tôi bủn rủn không muốn tin vào mắt mình. Đầu của anh máu tràn lênh láng. Một quả bom khoan đã khoan qua tấm bê tông, trúng đầu anh. Tôi ôm lấy anh, nước mắt đầm đìa, gọi to lên giữa tiếng bom đạn ầm ầm:
- Anh em ơi! Trần Tuấn chết rồi…
Tôi cởi tấm vải dù ngụy trang trải ra mặt đất đặt thi thể không còn nguyên vẹn của anh lên. Tôi cố trấn tĩnh, lợi dụng khoảng lặng giữa những đợt bom chạy ra phía bờ sông để tìm kiếm các anh khác.
- Anh Tô Ân!
Tôi gọi to và lao đến phía anh Tô Ân đang nằm. Anh bị thương rất nặng, toàn thân đầm đìa máu. Anh không nói được nữa nhưng còn hiểu lời tôi nói:
- Anh nằm xuống ụ mối này, tôi sẽ gọi anh em đến cứu.
Tôi nói và đỡ anh, giúp anh lết về phía ụ mối. Bom và đạn từ máy bay địch vẫn tuôn xối xả. Thấy chúng bổ nhào, tôi kéo anh trườn đi. Tới được chỗ ụ mối cạnh đường, tôi đặt anh nằm thấp xuống rồi vỗ vào vai anh động viên:
- Anh nằm đây, tôi gọi anh em đến băng bó…
Lợi dụng giữa hai đợt ném bom, tôi chạy lên một đoạn thì gặp các anh Văn Uyển, anh Lê Thu cũng bị thương, đang lết trên đường ra hướng bờ sông. Tôi kêu lên:
- Trần Tuấn hy sinh rồi! Anh Tô Ân bị thương rất nặng…
Vừa lúc đợt oanh khích của máy bay Mỹ tạm ngừng. Xe của bộ đội phòng không đến tìm và cứu người. Tôi dẫn hai anh chạy đến băng bó cho anh Tô Ân, sau đó anh được cáng lên xe đưa về Bệnh viện Quân khu 4 gần đó.
Tôi ở lại chôn cất anh Trần Tuấn. Đêm đến, nhân dân và các cán bộ sơ tán đều trở về. Đám tang anh Trần Tuấn được địa phương giúp đỡ, tổ chức chu đáo. Tôi cắm nén nhanh lên mộ, vái vong linh anh, chia tay anh lần cuối. Xong đâu đó, tôi tìm xe về Bệnh viện Quân khu. Nơi đây, anh Tô Ân đã trút hơi thở cuối cùng, cũng vào lúc các đoàn cán bộ của Báo Quân đội nhân dân, Tổng cục Chính trị từ Hà Nội vào tới nơi… Nhớ năm 1964, cũng tại bệnh viện này, trong chuyến đi công tác với tôi vào Vĩnh Linh, khi xe ngang qua Vinh thì các anh Tô Ân, Vũ Hồ, Kim Đồng… bị thương phải vào đây cấp cứu. Lần đó, mọi người đều thoát nạn, còn lần này thì điều đau đớn không may đã xảy ra…
Thời khắc tôi vĩnh viễn phải chia xa hai đồng chí, đồng nghiệp, hai người anh em thân thiết ở Phòng Biên tập Quân sự, Báo Quân đội nhân dân là ngày 19-1-1972, trên đường số 7, tỉnh Nghệ An.





