Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Giờ phút lịch sử tại Dinh Độc Lập – lời đầu hàng không thể đảo ngược

Trung tướng Phạm Xuân Thệ - người từng nói với Tổng thống Dương Văn Minh rằng “Các ông đã bị bắt làm tù binh, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao gì cả” - chia sẻ hồi ức sâu sắc về thời khắc lịch sử này.

27/01/2026Bảo Anh, Nguyễn Huế, Phước Sáng (Báo Vietnamnet)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thật khó để có thể dùng lời diễn tả trọn vẹn về cảm xúc của chàng đại úy trẻ 28 tuổi khi thấy lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên giữa lòng Sài Gòn, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đó là tâm trạng vừa hồi hộp, xúc động, vừa tự hào đến nghẹt thở, nhưng cũng là nỗi niềm xót thương khi nhớ đến đồng đội đã ngã xuống.

Khi đó, ông Thệ là đại úy, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 (Đoàn Đông Sơn) thuộc Sư đoàn 304, Quân đoàn 2. Trước khi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, ông đã tham gia chiến đấu trong 6 chiến dịch của chiến trường miền Nam với những trận đánh "quyết chiến, quyết thắng" để sớm có ngày non sông thống nhất.

Những lần đối thoại với Tướng Dương Văn Minh

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi được Ban chỉ huy Trung đoàn bộ binh 66 giao nhiệm vụ cùng một số sĩ quan trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 7, là lực lượng đi đầu cùng xe tăng của binh đoàn thọc sâu Quân đoàn 2 tiến công vào nội đô Sài Gòn, đánh chiếm dinh Độc Lập. Còn Tiểu đoàn 8 đánh đài phát thanh, Tiểu đoàn 9 đánh Bộ tư lệnh hải quân và cảng Ba Son.

Ngày 30/4/1975, trời vừa tảng sáng, sau khi đánh chiếm được cầu Sài Gòn, chúng tôi đến cầu Thị Nghè. Tại đây, địch tiếp tục chống cự, chúng tôi lại chiến đấu ở đó khoảng 15-20 phút, bắn cháy 3 xe thiết giáp của địch. Từ đó, nhờ sự dẫn đường của một người dân, chúng tôi chạy thẳng theo đường Lê Duẩn hiện nay để tiến vào dinh Độc Lập.

Khi chỉ cách cổng dinh 100m, tôi thấy chiếc xe tăng thứ nhất húc vào bên trái của cổng, sau đó khựng lại và một người rút cờ giải phóng chạy ra. Sau đó, chiếc xe tăng thứ hai húc bật cánh cổng và vòng bên trái đi vào. Chúng tôi đi trên chiếc xe jeep liền bám theo sau và dừng lại ở bên trái dinh.

Xuống xe, tôi chạy vào sảnh dinh và thấy rất đông phóng viên cầm máy ảnh, máy quay… Đi tiếp đến chiếu nghỉ thứ nhất của cầu thang tầng trệt, tôi gặp một người to cao đứng đó, giới thiệu là Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh. Toàn bộ nội các đang trong phòng họp, mời quân giải phóng vào làm việc.

Lúc này tôi mới biết nội các chính quyền Sài Gòn đang ở trong và sau vài giây khựng lại vì bất ngờ, tôi lập tức chạy lên tầng cùng ông Nguyễn Hữu Hạnh vào phòng họp. Tại đây, ông Hạnh chỉ vào người đàn ông da ngăm đen, to cao, mặc áo 4 túi và giới thiệu là Tổng thống Dương Văn Minh, người thấp bên cạnh mặc comple là Thủ tướng Vũ Văn Mẫu.

Tổng thống Dương Văn Minh nói: “Chúng tôi đã biết quân giải phóng tiến công nội đô, đang chờ quân giải phóng vào để bàn giao”. Ngay lúc đó tôi nói: “Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không bàn giao gì cả”.

Từ đó, chúng tôi kiên quyết bắt ông Minh và ông Mẫu phải ra Đài phát thanh Sài Gòn để tuyên bố đầu hàng. Ông Minh nói muốn được đầu hàng tại đây, ra bên ngoài không đảm bảo an toàn do còn đánh nhau. Khi ấy, tôi trấn an: “Chúng tôi đã làm chủ thành phố và bảo đảm an toàn cho ông đi ra đài phát thanh”.

Chúng tôi đưa ông Minh, Mẫu xuống sảnh, đến bậc tam cấp (sau này có bức ảnh chụp được thời khắc này). Ông Minh chỉ sang tay trái

Khi ngồi trên xe jeep đi từ dinh Độc Lập đến đài phát thanh, ra khỏi cổng, tôi thấy xe tăng, xe chở bộ binh và người dân đang tiến vào rất đông. Tôi hỏi ông Dương Văn Minh: “Ông thấy sức mạnh của quân giải phóng như thế nào?”.

Ông Minh trả lời: “Khi quân giải phóng tiến công vào nội đô, chúng tôi biết rằng đã thất bại”.

Tôi thắc mắc: “Biết là thất bại tại sao ông không tuyên bố đầu hàng từ trước mà để chúng tôi phải đánh vào tận sào huyệt?”.

Dương Văn Minh thú thật: “Khi quân giải phóng chưa tiến công vào nội đô mà tôi đã tuyên bố đầu hàng, bên dưới tôi còn nhiều người không đồng tình, họ sẽ khử tôi mất”. Rồi chính Dương Văn Minh cũng là người chỉ đường cho chúng tôi sang đài phát thanh.

Tại đây, chúng tôi ngồi bàn nhau soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng. Quá trình này, tôi chỉ là người chấp bút, còn lại các trợ lý tác chiến, tuyên huấn, dân vận… mỗi người mỗi câu, mỗi ý.

Tôi còn nhớ lúc ghi âm lời ông Dương Văn Minh, băng cassette bị rối nên phải làm lại mấy lần. Đang làm thì có 1 nhà báo nước ngoài, sau này tôi mới biết là nhà báo Tây Đức Börries Gallasch, mang máy cassette nghiệp vụ của ông ta đến thu âm lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh. Chúng tôi mở nghe lại bản ghi âm cho đến khi thấy đạt yêu cầu mới phát.

Đồng thời, nhà báo Kỳ Nhân ở hãng tin AP chỉ nơi ở của nhân viên đài phát thanh. Chúng tôi cử người đưa họ đến vận hành. Khi lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh được phát đi xong, ông Bùi Tùng thay mặt quân giải phóng chấp nhận lời tuyên bố đầu hàng đã soạn thảo, nhưng đọc trực tiếp qua micro mà không qua ghi âm. Lúc đó khoảng 13h30 thứ Tư ngày 30/4/1975.

Bất ngờ khi thấy Tổng thống Dương Văn Minh chờ ở dinh Độc Lập

Khi vào dinh Độc Lập, tâm thế chúng tôi là cầm súng sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hy sinh. Nên khi thấy Dương Văn Minh và nội các, dù bất ngờ nhưng nhiệm vụ của tôi, người lính chiến lúc đó, là phải yêu cầu chỉ huy cao nhất đầu hàng. Cứ nghĩ đến đâu tôi làm đến đó, không báo cáo được cấp trên vì không có phương tiện liên lạc.

Chúng tôi muốn làm sao thật nhanh đưa 2 ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu sang đài phát thanh tuyên bố đầu hàng, để chấm dứt chiến tranh.

Nói thêm về chi tiết sau này có gây tranh cãi “ai là người viết lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh”, tôi xin khẳng định đó là sản phẩm của tập thể, tôi chỉ là người chấp bút. Khi chúng tôi đang viết thì anh Bùi Văn Tùng vào giới thiệu. Từ bấy giờ tôi và anh Bùi Văn Tùng mới biết nhau. Ngày 14/3/2022, Thường vụ Quân ủy Trung ương cũng đã có Kết luận số 974 về vấn đề này.

Về hai bản thảo lời tuyên bố đầu hàng, tôi là người chấp bút và Dương Văn Minh viết lại, tôi có cầm trên tay và khi xong tôi để vào túi áo. Đến chiều, sau khi giao 2 người đó cho Bộ Tư lệnh Quân đoàn, tôi đi kiểm tra Tiểu đội 9 của tôi ở Bộ tư lệnh Hải quân. Ra đến đó, tôi cởi bộ quần áo và tắm giặt vì đã mặc từ ngày 10/4, từ Đà Nẵng hành quân và chiến đấu vào đây. Thấy bộ quần áo bẩn quá nên tôi nói cậu chiến sĩ vứt luôn, lấy bộ mới trong ba lô ra thay. Sáng 1/5, toàn bộ đội hình chúng tôi rút khỏi Sài Gòn, tập kết ở phía đông Tổng kho Long Bình.

Về chuyến xe jeep ra Đài phát thanh, lúc đó có 8 người cùng ngồi. Chúng tôi quây xung quanh các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu như tấm lá chắn để đảm bảo an toàn. Sau này, tôi còn sử dụng chiếc xe đó trong quá trình công tác cho đến khi bị hỏng.

Thực ra, sau khi hoàn thành mọi việc, tôi cũng nghĩ không biết là đúng hay sai. Dù khi ngước nhìn lên lá cờ quân giải phóng bay phấp phới trên nóc dinh Độc Lập, niềm vui ngày chiến thắng ngập tràn nhưng vẫn còn phân vân. Thậm chí, đến khoảng 14h30-15h, khi đã về lại dinh Độc Lập, tôi còn bị Phó chính ủy Quân đoàn Nguyễn Công Trang mắng “Ai cho phép ông làm như vậy”…, và tôi rất lo lắng. Cho đến tối cùng ngày, Sư đoàn trưởng Nguyễn Ân nói “Các cậu xử lý như thế là rất đúng, rất kịp thời”, tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Niềm vui chiến thắng lúc này mới trọn vẹn.

Chiến tranh kết thúc, tất nhiên tôi vui sướng và xúc động, nhưng cũng rưng rưng khi nhớ đến đồng chí, đồng đội mình đã ngã xuống. Thậm chí, khi vào đến cầu Sài Gòn sáng 30/4, cách thời điểm chiến thắng chỉ vài giờ, vẫn có tiểu đoàn trưởng xe tăng hy sinh cùng hơn 10 cán bộ, chiến sĩ. Nghĩ đến thật xót xa. Vô cùng biết ơn sự hy sinh to lớn của họ, để chúng tôi tiếp bước vào đến sào huyệt cuối cùng của địch, để giành chiến thắng và thống nhất nước nhà.

Không nhớ đánh bao nhiêu trận, bị thương bao nhiêu lần

Trung tướng Phạm Xuân Thệ sinh năm 1947 ở Khả Phong, Kim Bảng, Hà Nam, nhập ngũ tháng 8/1967 khi vừa tròn 20 tuổi và bắt đầu chiến đấu ở chiến trường Khe Sanh (Quảng Trị).

Sau đó, ông tham gia các chiến dịch Huế - Đà Nẵng, rồi chiến đấu dọc duyên hải miền Trung, cùng đồng đội giải phóng các tỉnh cho đến khi nhận được lệnh tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông chia sẻ không nhớ mình tham gia đánh bao nhiêu trận và bị thương bao nhiêu lần.

Chiến thắng Thượng Đức (thuộc xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam ngày nay) đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Địch xem đây là “cánh cửa thép bất khả xâm phạm” bảo vệ Đà Nẵng nên huy động lực lượng rất mạnh để canh phòng. Tại đây, Sư đoàn 304, 324 và các đơn vị phối thuộc phải chiến đấu 10 ngày đêm mới giải phóng được quận lỵ Thượng Đức vào ngày 7/8/1974.

Tuy nhiên, trận chiến còn kéo dài suốt 4 tháng sau đó, vô cùng ác liệt ở điểm cao 1062. Trong trận Thượng Đức, ta hy sinh 921 cán bộ, chiến sĩ... Nhưng từ chiến thắng Thượng Đức, quân ta đã đồng loạt nổi dậy tổng tiến công giải phóng tỉnh Quảng Nam ngày 24/3/1975, TP Đà Nẵng ngày 29/3/1975.

Sau 50 năm trở lại chiến trường cuối cùng, giành được thắng lợi cuối cùng, tôi vô cùng xúc động. Chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của thành phố Sài Gòn, nay là TPHCM, từ quá khứ cho đến hiện tại, chúng tôi rất tự hào.

Tôi luôn luôn mong mỏi thế hệ trẻ trân trọng những giá trị lịch sử, có trách nhiệm xây dựng đất nước phát triển để xứng tầm với các nước trên thế giới. Thế hệ trẻ cần phấn đấu để 5, 10 rồi 20 năm sau, chúng ta phát triển được nhiều hơn thế này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Giờ phút lịch sử tại Dinh Độc Lập – lời đầu hàng không thể đảo ngược | Câu chuyện thời hoa lửa