Giỗ trận ngày 1 tháng 10 và lời hứa của người nữ dân quân Lam Hạ
Sáu mươi năm sau trận bom ngày 1/10/1966, bà Vũ Hồng Nhu vẫn cùng đồng đội trở về Lam Hạ làm giỗ trận, gọi tên những cô gái tuổi mười sáu, đôi mươi đã hy sinh bên mâm pháo.
Ngày 1 tháng 10 hằng năm, bà Vũ Hồng Nhu lại cùng những đồng đội còn sống trở về Lam Hạ làm giỗ trận. Họ thắp hương trên nơi từng là trận địa pháo 37 ly và gọi tên từng người đã khuất. Với bà Nhu, đó không chỉ là một ngày tưởng niệm. Đó còn là cách những người được sống tiếp thực hiện lời hứa không bao giờ quên bạn mình.
Đại đội dân quân phòng không xã Lam Hạ được thành lập ngày 5 tháng 8 năm 1965 với 87 người, trong đó trung đội nữ có 25 cô gái. Lam Hạ khi ấy nằm gần thị xã Phủ Lý, trên một tuyến giao thông quan trọng chi viện cho miền Nam. Quanh khu vực có tám trận địa phòng không bố trí liên hoàn, khiến nơi đây trở thành một trong những trọng điểm bị không quân Mỹ đánh phá.
Vũ Hồng Nhu và Nguyễn Thị Thi là hai thành viên nhỏ tuổi nhất của trung đội. Khi gia nhập dân quân, bà Nhu mới mười lăm tuổi. Hai cô gái chơi thân từ nhỏ, đi đâu cũng có nhau nên được đồng đội trìu mến gọi là những “em út”. Họ vừa tham gia sản xuất, vừa được bộ đội phòng không huấn luyện các vị trí trên pháo 57 ly, 37 ly và súng 14,5 ly.
Nhịp sống của người nữ dân quân luôn gắn với tiếng còi báo động. Dù đang cấy lúa hay đang ngủ, khi có lệnh, họ phải lập tức chạy về trận địa. Những hòm đạn có khi nặng gấp đôi cơ thể được các cô gái nhỏ bé chuyển đến mâm pháo giữa tiếng máy bay và bom nổ.
Sáng sớm ngày 1 tháng 10 năm 1966, còi báo động vang lên. Máy bay Mỹ hướng về khu vực Nam đồng bằng Bắc Bộ. Các nữ dân quân Lam Hạ nhanh chóng vào vị trí, phối hợp cùng bộ đội chủ lực bảo vệ trận địa và tuyến giao thông. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, bom trút xuống khu vực pháo.
Loạt bom ấy đã cướp đi sinh mạng của sáu nữ dân quân: Đinh Thị Tâm, Trần Thị Tuyết, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Thi, Phạm Thị Lan và Vũ Thị Phương. Nguyễn Thị Thi, người bạn “như hai mà một” của bà Nhu, mãi mãi dừng lại ở tuổi thiếu nữ.
Trong trận đánh đó, bà Nhu còn mất một người từng dành tình cảm cho mình là chiến sĩ pháo binh Đinh Công Hồi. Ông đã ngỏ lời nhưng bà chưa nhận, vì khi ấy bà còn quá trẻ và đất nước chưa hòa bình. Mảnh bom cứa vào cổ người chiến sĩ; ông chỉ kịp nói vài lời rồi hy sinh. Một tình cảm vừa chớm nở đã khép lại giữa khói lửa.
Sự mất mát của Lam Hạ chưa dừng ở ngày 1 tháng 10. Trong các trận chiến từ cuối năm 1966 đến ngày 7 tháng 7 năm 1967, tổng cộng mười nữ dân quân tuổi từ mười sáu đến đôi mươi đã hy sinh. Người thứ mười là Đặng Thị Chung, ngã xuống tại trận địa pháo 57 ly ở Hòa Lạc.
Sau chiến tranh, bà Vũ Hồng Nhu trở về với đời thường, tham gia Hội Cựu chiến binh và Hội Phụ nữ địa phương. Bà dành nhiều thời gian kể lại lịch sử cho giáo viên, học sinh và những đoàn khách tìm hiểu Lam Hạ. Mỗi câu chuyện là một lần bà đưa những người bạn đã khuất trở về trong ký ức.
Bà từng nói rằng những người còn sống phải sống thay phần các bạn chưa kịp sống. Câu nói ấy giải thích vì sao giỗ trận ngày 1 tháng 10 vẫn được duy trì qua nhiều thập niên. Đó không chỉ là nỗi buồn của một thế hệ, mà còn là lời nhắc với người hôm nay rằng hòa bình được đánh đổi bằng tuổi xuân của những con người rất trẻ.
Mười cô gái Lam Hạ được nhớ đến như mười bông hoa thép bên dòng Châu Giang. Nhưng trước khi trở thành biểu tượng, họ là những cô gái làng quê có tình bạn, ước mơ và những rung động đầu đời. Hiểu điều đó, chúng ta càng thấy sự hy sinh của họ lớn lao và càng có trách nhiệm sống xứng đáng với những ngày bình yên mình đang có.


