Mẹ Trần Thị Tứ sinh năm 1902 tại mảnh đất Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Thời trẻ, mẹ kết duyên cùng ông Đoàn Văn Tẩu, một người trí thức giỏi tiếng Pháp, từng làm chủ sự Bưu điện ở Vũng Tàu rồi sau đó chuyển về công tác tại Phan Thiết. Trong thời gian gia đình êm ấm, mẹ lần lượt sinh hạ được bốn người con, đặt tên là Đoàn Hữu Hạnh, Đoàn Hữu Huệ, Đoàn Thanh Tùng và một người con gái út. Thế nhưng, dưới vỏ bọc một viên chức bưu điện, ông Tẩu đã bí mật tham gia hoạt động cách mạng cho đến khi bị giặc phát hiện, buộc phải dứt áo thoát ly gia đình vào năm 1929. Trên bước đường lánh nạn, ông đã trải qua một hành trình dằng dặc từ Bình Định, Tây Sơn, Kon Tum, rồi trốn sang Hạ Lào, qua Xiêm trước khi đến Indonesia để tiếp tục hoạt động và nhận nhiệm vụ phát triển Đảng tại đây.
Kể từ ngày người chồng buộc phải thoát ly, giông bão đã ập xuống vai người vợ trẻ khi ấy mới vừa tròn 27 tuổi. Toàn bộ tài sản của gia đình phút chốc bị chính quyền thực dân Pháp nhẫn tâm tịch thu, đẩy mẹ vào cảnh trắng tay khi ôm bốn đứa con thơ dại trở về quê nội ở Ninh Hòa để lánh nạn. Trong hoàn cảnh bi đát đó, vì lo sợ bị liên lụy bởi lý lịch "gia đình Cộng sản", không một ai dám dang tay giúp đỡ hay gần gũi với năm mẹ con. Bỏ lại sau lưng cuộc sống sung túc của một phu nhân chủ sự bưu điện, mẹ Tứ đã kiên cường gồng gánh bôn ba, một mình cắn răng chịu đựng muôn vàn vất vả, nhận làm thuê cuốc mướn trên đồng ruộng để lo toan mọi việc trong nhà và nuôi các con ăn học thành tài. Không chỉ chăm lo miếng ăn giấc ngủ, mẹ còn là người thầy đầu tiên, thường xuyên kể cho các con nghe những câu chuyện lịch sử hào hùng về truyền thống đấu tranh giữ nước, từ đó gieo vào tâm hồn những đứa trẻ mồ côi cha một lòng yêu nước nồng nàn và ý thức sâu sắc về đức hy sinh.Thế nhưng, mười hai năm ròng rã vắt cạn bầu nhiệt huyết và sức lực để che chở cho đàn con đã khiến người mẹ kiệt quệ. Mẹ lâm trọng bệnh và trút hơi thở cuối cùng vào một ngày mùa đông lạnh lẽo năm 1941, vĩnh viễn không thể đợi được đến ngày gia đình đoàn tụ. Mãi đến năm 1944, ông Tẩu mang bí danh mới là Lê Huệ từ đất khách quê người bí mật trở về Fai Fo (Hội An, Đà Nẵng) rồi lặn lội tìm về quê cũ thăm vợ con. Xót xa thay, khi ông về tới nơi thì người vợ tào khang đã không còn nữa, ông chỉ có thể lén lút nhìn mặt các con trong sự cảnh giác tột độ vì nhà vẫn bị mật thám theo dõi gắt gao. Đêm hôm ấy, người cán bộ cách mạng kiên trung đã gục khóc và ôm lấy nấm mồ của vợ để ngủ, như một lời tri ân sâu sắc nhất dành cho người mẹ anh hùng đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời vì chồng, vì con.Tiếp nối truyền thống cách mạng vẻ vang của cha mẹ, các con và rể của mẹ cũng hăng hái tham gia đóng góp cho đất nước, tiêu biểu như người con rể Nguyễn Ngọc Tú đã gia nhập bộ đội và hiện là thương binh sống tại Khánh Hòa. Để ghi nhận những cống hiến và sự hy sinh to lớn mang tính biểu tượng ấy cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Nhà nước đã vinh dự truy tặng mẹ Trần Thị Tứ danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng vào ngày 9/8/1995.