Giọt nước mắt trước dòng Hát Giang
Trước dòng Hát Giang, Trưng Trắc gạt nước mắt tang chồng, cất lời thề rửa thù nhà nợ nước, biến nỗi đau cá nhân thành ngọn lửa khởi nghĩa quật khởi.
Giọt nước mắt trước dòng Hát Giang
Trời Hát Môn một ngày xuân năm 40, gió thổi lồng lộng qua những bãi bồi ven sông. Trưng Trắc đứng trên đài tế cao vút, chiếc áo quấn tang chồng – Thi Sách – vẫn còn thơm mùi vải mới. Thi Sách, người bạn đời, người đồng chí cùng chung chí hướng với nàng, vừa bị thái thú Tô Định tàn sát nhằm dập tắt mầm mống nổi dậy. Nỗi đau mất mát xé rách tâm can Trưng Trắc, làm lòng nàng thắt lại từng cơn. Nhưng ngay phía dưới đài tế, muôn vàn ánh mắt của nhân dân, của các lạc tướng, lạc dân từ khắp sáu mươi lăm thành mây tụ về đang nhìn nàng. Họ lầm than dưới ách đô hộ tàn bạo, và họ đang nhìn nàng bằng niềm hy vọng sống còn cuối cùng.
Trưng Nhị tiến lại gần, nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của chị. Sự ấm áp từ tay người em ruột thịt như truyền thêm sức mạnh kiên cường, thức tỉnh trách nhiệm lớn lao đang đặt trên vai người thủ lĩnh. Trưng Trắc ngẩng đầu, dùng vạt áo tang lau khô giọt nước mắt vừa đọng nơi khóe mắt. Nàng tuốt kiếm khỏi vỏ, tiếng thép va vào nhau đanh gọn xé tan cái lạnh của buổi sáng sớm.
Nàng cất giọng đọc lời thề phất cờ khởi nghĩa:
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp cũ họ Hùng
Ba kẻo đau lòng trình phụ
Bốn xin vẹn vẹn xưởng phong công này!
Lời thề vừa dứt, hàng vạn tiếng hô hưởng ứng vang rền cả một góc trời, làm rung chuyển cả dòng sông Hát. Không còn là nỗi đau cá nhân, giọt nước mắt nghẹn ngào năm ấy đã hóa thành ngọn lửa bùng cháy, cuốn phăng ách đô hộ nhà Hán, mở ra trang sử tự do đầu tiên cho dân tộc Việt Nam.



