Giữ bí mật giữa trùng khơi – Những hải trình làm nên kỳ tích
Ngày 23/10/1961, Đoàn vận tải quân sự 759 được thành lập, đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, để từ đây, đường Hồ Chí Minh trên biển - con đường nối liền hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, chính thức đi vào hoạt động. Con đường ấy đã đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc như một huyền thoại với biết bao kỳ tích được làm nên từ những con tàu không số.
Biến sự mênh mông, rộng lớn của biển cả thành lợi thế bí mật của mình, những đoàn tàu không số thiên biến vạn hóa khiến địch không thể ngờ tới.
Từ việc giả danh tàu đánh cá, sơn lại tàu khi bị lộ, giả trang từ quần áo, trang phục phù hợp…, câu chuyện cải dạng trên những con tàu không số thực sự hấp dẫn và ly kỳ hơn cả những bộ phim phiêu lưu, mạo hiểm dài tập. Tuyến đường cũ bị lộ, lập tức những hải trình mới được mở ra, những bến trả hàng bị lộ, lập tức những bến mới được lập ra…
Cứ thế, những con người quả cảm trên mỗi chuyến tàu không số chấp nhận đương đầu với mọi thử thách trên biển để đưa vũ khí cập bến an toàn. Trên hải trình mênh mông ấy, những con tàu không số tuy vô cùng bé nhỏ, nhưng lại mang trong mình sức mạnh tiềm tàng của sự bí mật, dù trước sóng dữ, biển động, trước mưa bão, mưa bom… vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ và giữ sự bí mật của con đường vận chuyển chiến lược trên biển.
Các cựu chiến binh như ông Nguyễn Thanh Hải, ông Nguyễn Đình Phan đều không thể quên những hải trình đặc biệt như thế trong cuộc đời làm chiến sĩ trên đoàn tàu không số của mình:
"Các chú thường đi vào mùa sóng to gió lớn biển động, lúc bấy giờ sẽ hạn chế được sự theo dõi và hoạt động của địch, nên lính của đoàn tàu này chịu được sóng to gió lớn rất tốt, chứ trời yên biển lặng mình đi là lộ ngay, mình tàu nhỏ mà lại sóng to gió lớn, nên những chuyến hành trình đấy đều gian nan vất vả cả".

Nhưng đúng vào thời điểm cuộc chiến cam go nhất, công tác vận chuyển trên biển đang phát triển thuận lợi thì đường Hồ Chí Minh trên biển bị lộ.
Ngày 16/2/1965, tàu 143 chở 63 tấn vũ khí khi vào bến Vũng Rô- Phú Yên thì bị địch phát hiện, tấn công và từ đó địch đã phát hiện ra con đường vận chuyển vũ khí bằng đường biển của ta. Cuộc chiến giữ bí mật của những con tàu không số chuyển sang một giai đoạn mới, cam go, khốc liệt và nguy hiểm muôn vàn, song nhờ sự quả cảm và tính bí mật được đẩy lên cao độ mà những kỳ tích mới tiếp tục được làm nên từ chính những chuyến tàu huyền thoại này.
Giai đoạn vận chuyển 1969-1972 là thời kỳ địch phong tỏa ngày càng nghiêm ngặt. Nhưng địch càng phong tỏa, ta càng tìm nhiều phương thức vận chuyển vũ khí vào chiến trường Miền Nam. Không chỉ vũ khí, mà những chuyến tàu không số vận chuyển bộ đội vào chi viện sức người cho chiến trường miền Nam khiến địch không thể ngờ tới.
Sự thần tốc, hiệp đồng chặt chẽ giữa quân và dân, giữa từng khâu trên biển, dưới bến như một guồng máy hoàn hảo mà ông Phan Thanh Hải mỗi khi nhớ lại đều không giấu nổi sự tự hào: "Hàng của các chú là hàng biết đi biết nói, nên xuống hàng cũng rất nhanh, giải phóng hàng cũng rất nhanh. Xuống tàu 15-20 phút là xong ngay. Mấy trăm người đi mấy cái cầu xuống tàu thì chỉ 15-20 là đi ngay, trong thời kỳ thần tốc nó là như vậy, không có thời gian để nghỉ, còn máy móc sự cố trừ trường hợp không khắc phục được thì chịu, còn khắc phục được là đi, ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương đấy, ngày ấy là như vậy."
Trải qua 14 năm (1961-1975) vận chuyển, chi viện cho chiến trường miền Nam, đoàn tàu không số của Binh chủng Hải quân đã thực hiện gần 2000 chuyến đi; vận chuyển gần 153 nghìn tấn vũ khí; hơn 80 nghìn lượt người, với đoạn đường gần 4 triệu hải lý.
Ngoài ra, các chiến sĩ trên đoàn tàu không số đã trực tiếp chiến đấu với 300 lượt tàu địch; 1200 lượt máy bay; khắc phục trên 4000 quả thủy lôi; bắn chìm 10 tàu và bắn rơi 5 máy bay và bắn bị thương nhiều chiếc khác, tiêu diệt hàng hàng trăm tên địch; vượt qua hơn 20 cơn bão để vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam.

Trên hải trình mênh mông và đầy thử thách ấy, tính bí mật của những chuyến tàu không số đã làm nên kỳ tích, cùng với tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trên bộ, kết nối hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam, vận chuyển kịp thời, hiệu quả vũ khí và lực lượng, góp phần quan trọng vào Đại thắng mùa Xuân 1975.



