Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

“Giữ lửa Ba Tơ”

Năm 1943–1944, trong bối cảnh chiến tranh thế giới chuyển biến mạnh mẽ với thắng lợi của Hồng quân Liên Xô tại Leningrad và phong trào kháng chiến lan rộng ở Đông Dương, chi bộ tại Ba Tơ vừa mở rộng cơ sở cứu quốc, vừa đối mặt với nguy cơ lộ tổ chức do hành động nôn nóng phát động tuyên truyền công khai. Vụ bắt bớ và tra tấn đồng chí Huỳnh Tấu trở thành thử thách khốc liệt, song tinh thần kiên trung của anh đã bảo vệ được trung tâm lãnh đạo. Từ đó, tổ chức rút ra bài học giữ bí mật, củng cố lực

Lai Châu03/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tháng 5 năm 1943, chi bộ họp kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác và thống nhất nhận định: Hiện nay đã xây dựng được cở sở cach mạng ở hầu hết các huyện trung châu. Riêng ở hai huyện Mộ Đức, Nghĩa Hành, phong trào hoạt động của các đoàn thể cứu quốc đang lên mạnh. Việc bắt liên lạc với Trung ương thì kể từ khi đồng chí Chu Huệ trốn nhà lao Buôn Ma Thuột tìm về Ba Tơ bắt liên lạc với anh em an trí, ta giao công việc này cho Chu Hụệ, nhưng đến nay đã năm tháng trôi qua mà chưa nhận được tin tức. Qua báo chí ta biết Hồng quân Liên Xô mở cuộc tiến công Phát xít Đức trên nhiều mặt trận, đặc biệt giành thắng lợi lớn trên mặt trận Lê-nin-gờ-rát. Mỹ, Anh chuyển hướng phản công sang Thái Bình Dương. Ở chính quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Pháp, những đoàn quân du kích chiến đấu anh dũng chống phát xít Đức. Từ những diễn biến đó có nhiều khả năng ở Đông Dương Nhật sẽ lật Pháp để trừ hậu họa, tránh một mũi dao đâm vào sườn. Tình thế đã đổi khác. Hội nghị quyết định đổi tên ủy ban vận động cách mạng thành ủy ban vận động cứu quốc. Mặt trận mở các lớp huấn luyện cho cán bộ cơ sở, giúp họ nắm vững chủ trương, phương pháp vận động quần chúng, xây dựng phong trào rộng khắp trên mọi miền trong tỉnh. Mặt khác tiếp tục vận động đồng bào dân tộc, bắt liên lạc với các thủ lĩnh chống Pháp người Thượng, xây dựng cơ sở, chuẩn bị lực lượng vũ trang, khi có thời cơ thì khởi nghĩa từng phần theo tinh thần Nghị quyết tám của Trung ương.


Anh Huỳnh Tấu đề nghị mở một cuộc tuyên truyền công khai rầm rộ bằng việc treo cờ, rải truyền đơn, dán biểu ngữ để cổ vũ phong trào quần chúng làm hậu thuẫn cho việc xây dựng cơ sở quần chúng. Sau khi trao đổi, thảo luận trong anh em nhận thấy cơ sở ta vừa xây dựng tuy nhiều, nhưng chưa vững chắc. Ta chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để khi thoát ly có thể xây dựng ngay căn cứ chống giặc. Bọn mật thám Pháp, một số tổ chức thân Nhật ráo riết hoạt động dưới chiêu bài "Đại Đông Á’’ ca ngợi tinh thần "đồng chủng đồng văn". Một số người mắc mưu, hy vọng dựa vào Nhật để giành độc lập. Cũng có những tên do Nhật cài vào làm tay sai cho chúng. Tất cả bọn này lùng sục tận thôn xã dò tìm, đánh phá cơ sở ta. Những cuộc đấu tranh công khai vào những năm 39-40, 40-41 đã để lại một bài học đau xót, những kinh nghiệm nhớ đời. Phát động tuyên truyền công khai lúc này là làm lộ tổ chức, là đánh thức tinh thần cảnh giác của bọn mật thám Pháp và những tên tay sai Nhật mà lâu nay bọn chúng chủ quan tưởng rằng đã tiêu diệt được phong trào cách mạng Quảng Ngãi từ những năm ấy. Thực tế tình hình ở Ba Tơ, ta còn có thể lợi dụng được tính hợp pháp để cơ quan trung tâm tiếp tục hoạt động.


Vào những ngày cuối tháng 7 năm 1943, nguồn tin do người nhà mang lên cho biết: từ ngày 14 đến 17 tháng 7 ở Cầu Cát (phía nam thị xã Quảng Ngãi) xuất hiện cờ đỏ sao vàng và truyền đơn rải dọc đường xe lửa. Hiện nay bọn mật thám đang lồng lộn, truy tìm cơ sở cách mạng. Bọn chúng bắt những người bị tình nghi, tra tấn dã man nhiều chính trị phạm cũ.

Một buổi chiều, tôi đi Trường An gặp cụ Trần Toại, vừa về đến nhà thì anh Tấu đến.

- Khâm này! Cơ sở báo lên cho biết, đúng là có treo cờ, rải truyền đơn vào những ngày từ 14 đến 17 tháng 7 vừa rồi.

- Cuối tờ truyền đơn, ký tên tổ chức nào? Anh biết không? - Tôi hỏi.

- Không rõ.

- Chúng ta phải nhắn cơ sở tìm một truyền đơn gởi lên xem thử thuộc tổ chức nào? Phải đề phòng bọn AB1 (AB đoàn: Viết tắt của Agency Beuraux: cục tình báo của địch) đoàn mạo danh cách mạng anh ạ.

Anh Tấu ngồi lặng im, vẻ suy nghĩ, một lúc sau mới ra về. Suốt thời gian ấy chúng tôi chuẩn bị đối phó với những bất trắc xảy ra. Nhưng một tháng trôi qua bọn mật thám lùng sục truy tìm, vẫn không ra manh mối.


Cuối tháng 8 năm 1943. Buổi sáng khi mặt trơi vừa vượt qua rặng núi đằng đông, một chiếc xe con màu mận chín vượt qua Dốc Mốc chặy thẳng lên đồn Ba Tơ rồi sang nhà kiểm lý Ba Tơ. Lát sau, một toán lính khố xanh, mấy tên mật thám do phó mật thám Bùi Trọng Lệ chỉ huy kéo đến nha, xích tay anh Huỳnh Tấu và chạy xuống Trường An bắt đồng chí Huỳnh Máu, đầu mối liên lạc với Chu Huệ ở Nghệ Tĩnh, đưa về tỉnh. Chiều hôm ấy, anh Kiệt đi chăn vịt về bảo tôi:

- Rất có thể cơ sở ta ở đây bị lộ do cuộc phát động công khai vừa rồi.

- Nhưng ta có chủ trương phát động đâu?

- Chính anh Tấu nói với tôi là đã chỉ thị cho cơ sở trung châu treo cờ, rải truyền đơn.

- Anh bảo sao? Chính anh Tấu nói vậy à?

- Đúng! Anh Kiệt khẳng định, rồi tiếp - anh Tấu rất hối hận vì đã để xảy ra sự việc đáng tiếc đó. Vừa qua anh Chu Huệ vào, biết chuyện đã chỉ trích nghiêm khắc và nhắc lại chủ trương lúc này là cần giữ bí mật tổ chức, nhanh chóng xây dựng phong trào, quần chúng, chuẩn bị lực lượng vũ trang, khi có điều kiện tiến hành khởi nghĩa. Phát động quần chúng tuyên truyền công khai lúc này là bộc lộ lực lượng để kẻ địch tìm cách tiêu diệt. Thế là rõ. Đồng chí Tấu do nôn nóng chủ quan đã vượt ra ngoài nguyên tắc tổ chức, không tôn trọng nghị quyết chi bộ. Nhưng việc đã xảy ra rồi, bây giờ làm thế nào để duy trì cơ quan lãnh đạo ở Ba Tơ, củng cố các tổ chức cơ sở? Tôi không nghi ngờ tinh thần bất khuất của anh Tấu. Nhưng phải đề phòng, lỡ anh Tấu sơ hở trong khai báo, bọn mật thám theo đó lần tìm bắt thêm nhiều người nữa sẽ gây hoang mang trong quần chúng, phá vỡ cơ sở, phong trào ta vừa nhen nhóm. Tôi quyết định triệu tập họp chi bộ bàn biện pháp đối phó. Trong cuộc họp có ý kiến cho rằng cần nhanh chóng thoát ly khỏi căng an trí Ba Tơ, đề phòng bọn mật thám truy bắt các đồng chí khác nếu anh Tấu sơ hở khai báo.

Cũng có ý kiến đề nghị bên ngoài ta vẫn giữ nếp sinh hoạt bình thường, nhưng bên trong tổ chức canh gác cẩn mật, bảo vệ và duy trì trung tâm lãnh đạo, củng cố các cơ sở cứu quốc quanh vùng Ba Tơ. Mỗi người tự cất giấu tài liệu, áo quần, thuốc men ra rừng, khi có xe mật thám lên bắt người thì tất cả thoát ly rút vào rừng bàn cách tiếp tục hoạt động. Việc trước mắt là phải báo gấp cho các cơ sở tạm ngừng hoạt động để nghe ngóng phản ứng của địch. Chi bộ tán thành ý kiến này, coi đây là nghị quyết chung. Từ hôm ấy chúng tôi vẫn đi lại làm ăn, buôn bán bình thường, nhưng đêm đêm tôi và anh Kiệt chia nhau canh gác. Nhà tôi có cửa sổ nhìn về phía Dốc Mốc, ngồi đây có thể quan sát rõ ô tô lên xuống. Lần ấy vợ tôi lên thăm, ngạc nhiên thấy có bữa từ đầu hôm đến giữa đêm, có bữa từ giữa đêm đến sáng tôi ra ngồi bên cửa sổ nhìn ra ngoài trơi, cô rất lo ngại. Tôi phải nói rõ tình cảnh chúng tôi từ hôm anh Huỳnh Tấu bị bắt. Nghe xong cô cầm tay tôi, nói trong niềm xúc động:

- Vậy mà em lo anh có điều gì giận em.

Tôi kéo vợ ngồi sát bên mình kể cho cô nghe những công việc cơ sở phải làm để giữ bí mật tổ chức. Đêm ấy vợ tôi ngồi bên chồng trọn phiên gác. Hôm sau, cô ra về sớm để kịp báo tin cho các cơ sở Sơn Tịnh - Bình Sơn. Còn anh Tiểu báo ngay cho các cơ sở Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành.


Ngày tháng nặng nề trôi qua, chúng tôi sống trong thấp thỏm lo âu. Mãi đến hôm vợ anh Tấu lên thu dọn đồ đạc mang về có đưa cho tôi điếu thuốc hút dở. Mở ra, tôi đọc nét chữ li ti của anh Tấu: "Mọi việc đã xong, sắp mở phiên tòa. Chúc khoẻ, thành công". Thê là anh Tấu đã chịu cực hình tra tấn mà không hề hé môi để lộ tổ chức ở Ba Tơ. Tôi ngồi im lặng hình dung ra cảnh bọn mật thám như một bầy thú xông vào đánh anh tàn nhẫn. Tôi thầm nói với anh: "Anh Tấu ơi, anh đã trả giá quá đắt cho sai lầm vô nguyên tắc của mình, nhưng tinh thần của anh là tấm gương về lòng dũng cảm của Người cộng sản". Chị Tấu nghẹn ngào, nói qua nước mắt:

- Nhà tôi đang nằm ở xà lim tỉnh chờ ngày ra tòa, nhưng anh ấy yếu lắm, lần này chưa chắc qua khỏi. Sau này nghe một đồng chí kể lại, hôm bọn nó đưa anh Tấu vào phòng tra, thăng Lệ nhìn anh cười mỉa, giọng giễu cợt.

- Chẳng hiểu tôi với anh có duyên nợ gì mà năm ba lăm gặp nhau ở đây, giờ lại gặp.

- Vậy thì càng hay chứ sao, để ông hiểu rằng người cộng sản còn sống là còn đấu tranh cho, sự nghiệp cách mạng.

- Khá lắm! Anh là thằng cộng sản cứng đầu, quả chúng nó đoán không sai.


Cuộc tra tấn bắt đầu. Chúng nó đánh anh chết đi, sống lại mấy lần, máu mồm, máu mũi ộc ra đỏ cả sàn nhà. Trước sau chúng chỉ hỏi có một câu: "Tổ chức mày có những đứa nào? Mày có liên lạc với thằng Mau, con Mỹ, thằng Tri không?”. Trước sau anh Tấu vẫn trả lời: "Tổ chức chỉ có mình tao". Đến ngày thứ sáu, thằng Lệ thấy sức anh không còn chịu đựng được nữa, nhưng trong trận đấu này anh Tấu là người thắng cuộc. Thằng Lệ ra lệnh mang anh vứt xuống xà lim. Anh nằm trên nền xi máng, máu trong mồm úa ra ướt sũng vuông áo ngực, khắp người chỗ nào cũng thâm tím, sưng vù. Hai tay anh buông xuôi, gương mặt bình thản như người gánh nặng vừa vượt qua được dốc cao, giờ nằm ngủ một giấc dài cho lại sức. Lần ấy cùng với anh Tấu, bọn mật thám còn bắt anh Mau ở Nghĩa Hành, chị Mỹ, anh Tri ở Mộ Đức, do một liên lạc của Trung ương phái vào chắp nối với phong trào ở miền Trung, lúc trở ra đến Hà Tĩnh thì bị bắt, trong lời khai để lộ tên một số đồng chí.


Vụ án anh Huỳnh Tấu kết thúc đã giúp chúng tôi rút ra một kinh nghiệm tổ chức bảo vệ trung tâm phong trào cứu quốc ở Ba Tơ. Nhưng việc bắt liên lạc với Trung ương vừa mới bắt đầu nay đã bị gián đoạn.


Mùa đông năm 1943, được tin địch sẽ đưa một số đồng chí trung kiên vừa mãn hạn tù ở nhà lao Buôn Ma Thuột về an trí ở Ba Tơ, tôi, anh Kiệt, anh Khoách trao đổi tình hình và nhất trí nhận định: Bộ máy kìm kẹp của địch ở Ba Tơ có nhiều sơ hở, hàng ngũ anh em an trí dần dần đoàn kết. Một số người tìm đến chúng tôi dò hỏi muốn góp tay vào công việc chung. Tận dụng tình hình đó, chúng tôi cố tạo mọi cơ hội gây cho địch ảo tưởng rằng những người tù an trí Ba Tơ muốn an cư lạc nghiệp xây dựng cuộc sống lâu dài ở đây. Nhưng ngấm ngầm chúng tôi tạo mọi điều kiện mở lớp huấn luyện cho những thanh niên do những cơ sở giới thiệu lên nhằm đào tạo lớp cán bộ mới để mở rộng phong trào. Thực hiện chủ trương đó, anh Kiệt tiếp tục nuôi vịt, vừa để giải quyết cuộc sống trước mắt vừa làm tài chính cho Đảng. Tôi, anh Khoách, anh Đồng, một đồng chí tốt chưa khôi phục Đảng - thuê đất gần Dốc Mốc, xa Hoàng Đồn và Nha kiêm lý, để tránh sự dòm ngó của địch, mở trại trồng dâu nuôi tằm, tạo nơi đón người lên dự huấn luyện.


Đầu năm 1944, đồng chí Trương Quang Giao từ nhà lao Buôn Ma Thuột về nhà được mươi hôm thì mật thám bắt đưa đi an trí Ba Tơ. Anh Giao vừa lên Ba Tơ, chúng tôi bắt liên lạc ngay. Anh là người trầm tĩnh, kiên trung, giàu kinh nghiệm đấu tranh, cương quyết với kẻ thù, nhưng đầy lòng ưu ái đối với đồng chí, đồng bào. Sau khi ổn định việc ăn ở, anh Giao che tạm chiếc lều làm nghề cắt tóc để tiện việc tiếp xúc với nhiều anh em, tìm hiểu tính hình, tùy đối tượng mà tuyên truyền chủ trương của Đảng, động viên tinh thần chiến đấu, giữ vững ý chí của người tù cộng sản. Cái lều của anh ngày càng đông khách. Đám lính trong đồn cũng ra đây cắt tóc để được nghe anh nói chuyện. Lúc là chuyện tâm tình, khi là những lời bóng gió xa xôi kích động lòng yêu nước trong đám thanh niên binh lính.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn