GIỮ NGỌN LỬA KHÁNG CHIẾN GIỮA NÚI RỪNG TÂY BẮC
Nguyễn Quang Bích, còn gọi là Ngô Quang Bích, tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, sinh năm 1832. Ông là một vị quan triều Nguyễn, đồng thời là nhà thơ và một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào chống Pháp ở vùng Tây Bắc cuối thế kỷ XIX.
GIỮ NGỌN LỬA KHÁNG CHIẾN GIỮA NÚI RỪNG TÂY BẮC
Nguyễn Quang Bích, còn gọi là Ngô Quang Bích, tự Hàm Huy, hiệu Ngư Phong, sinh năm 1832. Ông là một vị quan triều Nguyễn, đồng thời là nhà thơ và một trong những thủ lĩnh tiêu biểu của phong trào chống Pháp ở vùng Tây Bắc cuối thế kỷ XIX.
Năm 1883, khi quân Pháp tiến công Hưng Hóa, Nguyễn Quang Bích đang giữ chức Tuần phủ Hưng Hóa. Ông kiên quyết tổ chức chống trả. Thành Hưng Hóa cuối cùng thất thủ, nhưng ông không chấp nhận việc chấm dứt chiến đấu. Ông rút về vùng Cẩm Khê, tập hợp lực lượng và xây dựng căn cứ tiếp tục kháng chiến.
Sau khi Chiếu Cần Vương được ban hành năm 1885, Nguyễn Quang Bích được giao trọng trách tổ chức và chỉ huy lực lượng chống Pháp ở vùng Tây Bắc. Từ căn cứ Tiên Động, nghĩa quân mở rộng hoạt động trên các vùng sông Đà, sông Thao và liên hệ với nhiều lực lượng kháng chiến khác.
Điểm đặc biệt trong hoạt động của Nguyễn Quang Bích là khả năng xây dựng căn cứ và vận động nhân dân. Ông hoạt động trên một địa bàn rộng, có nhiều dân tộc sinh sống. Nhờ uy tín của mình, ông nhận được sự ủng hộ của đồng bào Kinh, Thái, Mường, Mông, Dao. Nhân dân đóng góp lương thực, giúp nghĩa quân duy trì hoạt động trong điều kiện hết sức khó khăn.
Quân Pháp nhiều lần tổ chức tiến công các căn cứ. Cuối năm 1886 và đầu năm 1887, chúng mở cuộc càn quét lớn vào căn cứ Đại Lịch. Nghĩa quân phải liên tục chuyển địa bàn để tránh bị tiêu diệt. Nguyễn Quang Bích lần lượt xây dựng các căn cứ mới, trong đó có Nghĩa Lộ và sau đó là vùng Yên Lập.
Không chỉ chiến đấu, Nguyễn Quang Bích còn tìm cách liên hệ với các lực lượng yêu nước ở những địa phương khác. Ông nhiều lần tìm kiếm sự phối hợp và viện trợ, đồng thời duy trì liên lạc với các thủ lĩnh Cần Vương.
Thực dân Pháp nhiều lần tìm cách mua chuộc nhưng không thể làm ông từ bỏ con đường kháng chiến. Những năm cuối đời, lực lượng nghĩa quân ngày càng khó khăn, căn cứ bị thu hẹp, lương thực và vũ khí thiếu thốn. Ông vẫn tiếp tục tổ chức lực lượng và chuẩn bị cho những hoạt động mới.
Nguyễn Quang Bích mất năm 1890 tại vùng căn cứ. Ông để lại không chỉ dấu ấn của một thủ lĩnh kháng chiến mà còn nhiều tác phẩm thơ văn thể hiện tinh thần yêu nước và tâm trạng của một người sống giữa thời đất nước biến động.
Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Quang Bích, điều nổi bật không chỉ là những trận đánh mà còn là khả năng tập hợp nhân dân, xây dựng căn cứ và duy trì phong trào trong điều kiện vô cùng gian khổ.
Thông điệp: Trong hoàn cảnh khó khăn, giữ được niềm tin và khả năng tập hợp sức mạnh cộng đồng cũng là một hình thức chiến đấu. Lòng yêu nước không chỉ thể hiện trên chiến trường mà còn trong trách nhiệm với nhân dân.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia – “Nguyễn Quang Bích – Nhà quân sự tài hoa, nhà văn tiên phong về Tây Bắc”; Báo Quân đội nhân dân – “Thủ lĩnh nghĩa quân vùng Tây Bắc”.NGƯỜI THỦ LĨNH GIỮA NÚI RỪNG SÔNG ĐÀ
Đốc Ngữ tên thật là Nguyễn Đức Ngữ, sinh năm 1850. Ông xuất thân trong quân đội triều Nguyễn và từng lập nhiều công trạng trong các hoạt động quân sự. Chính từ chức vụ Đốc binh mà ông được nhân dân gọi bằng cái tên Đốc Ngữ.
Năm 1883, Đốc Ngữ tham gia trận Cầu Giấy lần thứ hai. Sau đó, khi tình hình đất nước ngày càng căng thẳng và quân Pháp mở rộng đánh chiếm Bắc Kỳ, ông tiếp tục tham gia tổ chức lực lượng chống Pháp.
Năm 1883, quân Pháp tiến công thành Sơn Tây. Đốc Ngữ trực tiếp chỉ huy lực lượng phòng thủ ở đồn Phù Sa. Trận chiến diễn ra quyết liệt, nhưng trước sức mạnh quân sự vượt trội của đối phương, thành Sơn Tây cuối cùng thất thủ.
Thất bại không khiến Đốc Ngữ từ bỏ cuộc chiến. Ông tiếp tục tập hợp lực lượng, chiêu mộ nhân dân vùng Thanh Sơn, Thanh Thủy và khu vực bên sông Đà để xây dựng lực lượng chống Pháp.
Từ những vùng rừng núi, nghĩa quân Đốc Ngữ hoạt động trên địa bàn Hòa Bình, Sơn Tây và nhiều nơi khác. Ông tận dụng địa hình, tổ chức lực lượng cơ động, lựa chọn thời cơ chiến đấu và tránh những cuộc đối đầu bất lợi. Cách đánh này khiến quân Pháp gặp nhiều khó khăn trong việc truy tìm và tiêu diệt nghĩa quân.
Khi quân Pháp tăng cường càn quét, Đốc Ngữ chủ động chia lực lượng để đánh lạc hướng đối phương. Một bộ phận do ông trực tiếp chỉ huy bí mật di chuyển, trong khi một bộ phận khác thực hiện kế nghi binh. Sau nhiều ngày vượt núi, nghĩa quân tiến vào Niên Kỷ, nơi có địa hình thuận lợi để xây dựng căn cứ và phối hợp với lực lượng của Tống Duy Tân.
Ngày 18-5-1892, nghĩa quân Đốc Ngữ phối hợp với lực lượng của Tống Duy Tân và Cao Bá Điển chiến đấu tại Niên Kỷ. Trận đánh cho thấy khả năng phối hợp giữa các lực lượng chống Pháp ở khu vực miền núi Thanh Hóa.
Tuy nhiên, quân Pháp cũng tăng cường các biện pháp đàn áp và tìm cách chia rẽ lực lượng kháng chiến. Đốc Ngữ cùng các tướng lĩnh thân cận cuối cùng bị sát hại vào năm 1892. Sau cái chết của ông, lực lượng nghĩa quân dần tan rã.
Điều đáng nhớ trong câu chuyện về Đốc Ngữ là sự gắn bó giữa người thủ lĩnh và nhân dân. Ông không chỉ tổ chức chiến đấu mà còn chống lại các chính sách bắt lính, bắt phu và những biện pháp gây chia rẽ cộng đồng của quân Pháp. Sự ủng hộ của đồng bào các dân tộc đối với nghĩa quân là minh chứng cho niềm tin mà ông đã tạo dựng.
Thông điệp: Một người lãnh đạo muốn tập hợp được sức mạnh phải biết dựa vào nhân dân, tôn trọng nhân dân và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân. Đó là bài học có giá trị vượt qua thời gian.
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia – “Đốc Ngữ, vị thủ lĩnh đánh Pháp xuất sắc của người An Nam”; Báo Quân đội nhân dân – “Thủ lĩnh nghĩa quân sông Đà”.



