Giữa mùa thu biên giới
Mùa thu năm 1950, giữa núi rừng biên cương Cao Bằng, có một hình ảnh đã trở thành dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử dân tộc: một vị lãnh tụ với dáng người giản dị, tay chống gậy, đứng trên núi Báo Đông lặng lẽ dõi theo từng diễn biến của trận đánh Đông Khê. Từ nơi ấy, giữa những tầng núi trùng điệp và mây trời biên giới, Người không chỉ chứng kiến một trận đánh mở màn cho Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950, mà còn trực tiếp hòa mình vào cuộc chiến đấu của quân và dân ta. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, người đã không đứng phía sau những trang bản đồ hay những báo cáo chiến trường, mà trực tiếp ra mặt trận, cùng Bộ Chỉ huy chỉ đạo chiến dịch, theo dõi từng bước tiến của quân ta và chia sẻ những gian khó với đồng bào, chiến sĩ nơi núi rừng biên giới. Sự hiện diện của Người giữa chiến trường không chỉ là nguồn động viên lớn lao đối với quân và dân ta, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự sâu sát và nghệ thuật lãnh đạo của một vị lãnh tụ luôn đặt vận mệnh đất nước và nhân dân lên trên hết.
Mùa thu năm 1950, giữa núi rừng biên cương Cao Bằng, có một hình ảnh đã trở thành dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử dân tộc: một vị lãnh tụ với dáng người giản dị, tay chống gậy, đứng trên núi Báo Đông lặng lẽ dõi theo từng diễn biến của trận đánh Đông Khê. Từ nơi ấy, giữa những tầng núi trùng điệp và mây trời biên giới, Người không chỉ chứng kiến một trận đánh mở màn cho Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950, mà còn trực tiếp hòa mình vào cuộc chiến đấu của quân và dân ta. Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, người đã không đứng phía sau những trang bản đồ hay những báo cáo chiến trường, mà trực tiếp ra mặt trận, cùng Bộ Chỉ huy chỉ đạo chiến dịch, theo dõi từng bước tiến của quân ta và chia sẻ những gian khó với đồng bào, chiến sĩ nơi núi rừng biên giới. Sự hiện diện của Người giữa chiến trường không chỉ là nguồn động viên lớn lao đối với quân và dân ta, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự sâu sát và nghệ thuật lãnh đạo của một vị lãnh tụ luôn đặt vận mệnh đất nước và nhân dân lên trên hết.
Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào một giai đoạn mới. Trước tình hình chiến trường và yêu cầu phá thế bao vây, cô lập căn cứ địa Việt Bắc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Biên giới Thu – Đông 1950.
Tháng 6 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng, quyết định mở chiến dịch nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần vùng biên giới phía Bắc, khai thông đường liên lạc quốc tế, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc và tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến phát triển sang một bước mới.
Để trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch được thành lập. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, được giao làm Bí thư Đảng ủy mặt trận và Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Chiến dịch. Những cán bộ chủ chốt của Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp cũng được cử tham gia trực tiếp vào công tác tham mưu, chính trị và bảo đảm hậu cần cho chiến dịch. Nhưng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo một chiến dịch không chỉ là những quyết định được đưa ra từ hậu phương. Người quyết định trực tiếp ra mặt trận.
Từ cuối tháng 8 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường ra mặt trận, trực tiếp cùng Bộ Chỉ huy Chiến dịch theo dõi và chỉ đạo công tác chuẩn bị. Người kiểm tra kế hoạch tác chiến, xem xét việc chuẩn bị hậu phương, theo dõi tình hình chiến trường và động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công.
Sự xuất hiện của Người nơi tiền tuyến đã trở thành nguồn động viên đặc biệt đối với những người đang ngày đêm chuẩn bị cho chiến dịch. Một vị lãnh tụ tối cao không ngại đường núi hiểm trở, không ngại gian khổ và nguy hiểm để đến tận nơi chiến trường – hình ảnh ấy khiến cán bộ, chiến sĩ và đồng bào càng thêm tin tưởng vào thắng lợi.
Ngày 9 tháng 9 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi đồng bào ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng”, động viên đồng bào phát huy tinh thần yêu nước, góp sức cho chiến dịch. Lời kêu gọi ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho đồng bào các dân tộc Cao Bằng. Từ những bản làng vùng cao, những con người vốn quen với núi rừng đã tình nguyện rời nhà, xuống núi mở đường, bắc cầu, vận chuyển lương thực, đạn dược. Hàng vạn dân công hỏa tuyến bám sát trận địa, góp sức bảo đảm cho bộ đội ăn no, đánh thắng.
Trong cuộc chiến ấy, phía sau mỗi người lính nơi trận địa là sức mạnh của cả một hậu phương. Và giữa hậu phương với tiền tuyến, hình ảnh Bác Hồ đã trở thành một điểm tựa tinh thần lớn lao.
Khi đến Cao Bằng, sau khi làm việc với Tỉnh ủy Cao Bằng tại Lam Sơn, Hòa An, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Quảng Uyên làm việc với Bộ Chỉ huy Chiến dịch.
Tại Sở Chỉ huy Chiến dịch ở Tả Phầy Nưa, xã Quốc Phong, ngày 10 tháng 9, Người trực tiếp phê chuẩn quyết tâm tác chiến của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, đồng thời phân tích chủ trương đánh Đông Khê – một vị trí có ý nghĩa quan trọng trên tuyến phòng thủ của quân Pháp.
Chiều ngày 11 tháng 9, cũng tại Sở Chỉ huy Chiến dịch, Người chủ trì Hội nghị phổ biến kế hoạch cho cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn. Người căn dặn:
«“Chưa đánh thắng thì chưa được coi là chuẩn bị xong. Quân sự thì phải chuẩn bị mãi.”»
Đằng sau lời căn dặn ấy là một tư duy rất tỉnh táo: chiến thắng không thể được đánh đổi bằng sự chủ quan. Người yêu cầu cán bộ các cấp phải làm tốt công tác chuẩn bị về mọi mặt, liên tục củng cố quyết tâm chiến đấu cho bộ đội và tuyệt đối không được khinh địch.
Đối với Người, chuẩn bị cho một trận đánh không chỉ là chuẩn bị vũ khí, kế hoạch hay lực lượng, mà còn là chuẩn bị ý chí, niềm tin và tinh thần của mỗi người lính.
Với tác phong luôn theo sát bước chân chiến sĩ, ngày 13 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Sở Chỉ huy Chiến dịch để đến Sở Chỉ huy tiền phương ở Nà Lạn, xã Đức Long, huyện Thạch An.
Sáng sớm ngày 16 tháng 9 năm 1950, trận Đông Khê chính thức mở màn Chiến dịch Biên giới. Từ một vị trí quan sát trên núi Báo Đông, cách Đông Khê khoảng 11 km đường chim bay, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm chú theo dõi diễn biến trận đánh.
Ở nơi ấy, Người đứng giữa núi rừng biên giới, trực tiếp quan sát cuộc chiến đấu của quân ta. Không khí của chiến trường, những dãy núi trùng điệp và khí thế tiến công của bộ đội đã khơi nguồn cảm hứng để Người viết bài thơ “Lên núi”:
«“Chống gậy lên non xem trận địa,
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.
Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu,
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.”»
Bốn câu thơ ngắn nhưng chứa đựng khí thế mạnh mẽ của cả một chiến dịch. Hình ảnh “chống gậy lên non” vừa giản dị, gần gũi, vừa khắc họa một vị lãnh tụ trực tiếp có mặt giữa chiến trường. Từ trên núi cao, Người dõi mắt về trận địa; từ trong lòng cuộc chiến, Người đặt trọn niềm tin vào quân và dân.
Đó có lẽ cũng là một trong những hình ảnh đẹp nhất về Bác Hồ trong cuộc kháng chiến: một vị lãnh tụ ở ngay giữa những người đang chiến đấu vì độc lập của Tổ quốc.
Sau chiến thắng Đông Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định quân Pháp có thể tìm cách chiếm lại Đông Khê để mở đường cho lực lượng ở Cao Bằng rút lui.
Trước tình hình ấy, quân ta chủ động triển khai thế trận nhằm nhử quân địch vào khu vực đã chuẩn bị, từng bước khép chặt vòng vây và tiêu diệt lực lượng của chúng.
Trong những ngày truy kích địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tục gửi thư, điện động viên bộ đội. Sự quan tâm sát sao ấy tiếp thêm niềm tin và sức mạnh cho những người đang chiến đấu nơi tiền tuyến. Quân và dân ta nhất tề xông lên. Những thắng lợi liên tiếp làm thay đổi cục diện chiến trường. Ngày 3 tháng 10 năm 1950, Cao Bằng được giải phóng.
Chiến thắng ấy đánh dấu một bước phát triển quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thế phòng thủ của quân Pháp trên tuyến biên giới bị phá vỡ, căn cứ địa Việt Bắc được củng cố và con đường liên lạc quốc tế của cách mạng Việt Nam được khai thông.
Nhưng phía sau những thắng lợi ấy không chỉ là những trận đánh trên chiến trường. Đó còn là sự đóng góp của hàng vạn chiến sĩ, dân công và đồng bào các dân tộc đã cùng nhau tạo nên sức mạnh của chiến dịch.
Chiến dịch Biên giới kết thúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đi thăm chiến trường Đông Khê, Thất Khê, thăm thương binh, các đơn vị tham gia chiến dịch, dân công và tù binh.
Trong niềm vui chiến thắng, Người vẫn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân không được chủ quan, kiêu căng hay khinh địch. Người nhấn mạnh rằng thắng lợi của Chiến dịch Biên giới mới chỉ là một bước trên con đường trường kỳ kháng chiến; phía trước vẫn còn những trận đánh khó khăn và những thử thách lớn hơn. Lời căn dặn ấy cho thấy một phẩm chất đặc biệt trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: luôn nhìn thấy tương lai phía sau mỗi thắng lợi.
Chiến thắng Biên giới Thu – Đông 1950 không phải là điểm kết thúc. Đó là một bước tiến quan trọng, tạo thêm thế và lực cho cuộc kháng chiến. Sau này, quân và dân ta tiếp tục làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Đã nhiều thập kỷ trôi qua kể từ mùa thu năm 1950. Những trận đánh nơi biên giới Cao Bằng giờ đây chỉ còn lại trong những trang sử, những địa danh và ký ức của dân tộc. Thế nhưng hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh ra trận vẫn còn nguyên giá trị.
Đó là hình ảnh Người đứng trên núi Báo Đông, lặng lẽ quan sát trận địa. Là hình ảnh Người giữa Sở Chỉ huy, cẩn trọng trong từng quyết định. Là hình ảnh Người đến với chiến sĩ, dân công và đồng bào nơi tiền tuyến. Và cũng là hình ảnh một vị lãnh tụ luôn nhắc nhở quân và dân phải tỉnh táo trước thắng lợi, kiên định trước khó khăn và đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết.
Có lẽ, điều làm nên sức sống lâu bền của hình ảnh “Bác Hồ ra trận” không chỉ nằm ở việc Người đã trực tiếp có mặt tại chiến trường. Điều đáng nhớ hơn cả là ở bất cứ nơi đâu, giữa những thời khắc khó khăn nhất của đất nước, Người luôn hướng về nhân dân, tin tưởng vào nhân dân và cùng nhân dân đi qua những thử thách lớn lao. Mùa thu năm ấy, Người đã đi qua những núi rừng biên giới. Những dấu chân ấy rồi sẽ hòa vào đất đá, vào thời gian. Nhưng dấu ấn Người để lại trong lịch sử dân tộc thì không bao giờ phai mờ.
Bởi trên hành trình của đất nước, có những bước chân chỉ đi qua một mùa thu. Và có những bước chân trở thành dấu mốc của cả một thời đại.



