Cựu chiến binh

Giữa Rừng Mưa Chiến Trường B

Năm 1967, từ thôn Hạ Vũ 1 yên bình, chàng trai Nguyễn Kim Tiến khoác ba lô vào chiến trường miền Đông Nam Bộ – nơi lửa đạn và máu hòa vào đất đỏ. Trong những năm tháng làm chiến sĩ trinh sát – cảnh giới, bác Tiến đã nhiều lần đối mặt sinh tử, âm thầm giữ bình yên cho đơn vị giữa rừng sâu. Ký ức sâu đậm nhất với bác không phải là trận đánh lớn, mà là một đêm mưa, nơi bác và đồng đội cứu nhau giữa lằn ranh sống – chết. Chiến tranh qua đi, nhưng những đêm rừng năm ấy vẫn theo bác suốt cả cuộc đời.

Thanh Hóa23/12/2025Lê Thị Lan (CHI ĐOÀN TRƯỜNG MẦM NON HOẰNG ĐẠO)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nguyễn Kim Tiến sinh năm 1945, lớn lên ở thôn Hạ Vũ 1 – vùng quê thuần nông của xứ Thanh. Khi đất nước bước vào giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, năm 1967, bác tình nguyện nhập ngũ, biên chế vào Đại đội 20, đơn vị bộ binh chủ lực của tỉnh Thanh Hóa, hành quân vào chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Bác được giao nhiệm vụ chiến sĩ trinh sát – cảnh giới, công việc thầm lặng nhưng luôn đối diện hiểm nguy. “Làm trinh sát là đi trước đơn vị, nhiều khi chỉ có một mình với rừng, với súng, với tiếng động không biết của ta hay địch,” bác Tiến chậm rãi kể.

Những năm đầu ở chiến trường B, đơn vị của bác hoạt động chủ yếu ở vùng rừng giáp ranh giữa các căn cứ quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Ban ngày ẩn mình, ban đêm luồn sâu trinh sát, nắm tình hình địch để báo về sở chỉ huy. Có những đêm bác đi liên tục mười mấy cây số trong rừng, chỉ mang theo bi đông nước, nắm cơm khô và khẩu súng bên người.

Bác nhớ nhất là một đêm mưa rừng năm 1970. Khi ấy, bác được lệnh đi cảnh giới vòng ngoài cho đơn vị đang ém quân. Trời mưa như trút, rừng tối đặc, tiếng mưa hòa lẫn tiếng côn trùng khiến mọi giác quan căng như dây đàn. Bất ngờ, một tổ tuần tra địch xuất hiện ở khoảng cách rất gần.

“Lúc đó tim đập mạnh lắm, chỉ cần sơ sẩy là mất mạng, mà bắn thì lộ cả đơn vị phía sau,” bác kể. Bác nằm ép sát xuống đất, nước mưa ngập đến ngực, nín thở suốt gần một giờ. Khi địch rút đi, bác bò ngược về báo tin, giúp đơn vị kịp thời thay đổi vị trí, tránh được một trận càn lớn.

Không chỉ đối mặt với địch, người lính trinh sát còn phải chiến đấu với đói rét, bệnh tật. Có lần bác sốt rét ác tính, người run lẩy bẩy nhưng vẫn phải cố hoàn thành nhiệm vụ. “Hồi đó nghĩ đơn giản lắm, còn thở là còn đi được, còn đi được là còn làm nhiệm vụ,” bác cười hiền, nhưng ánh mắt chùng xuống.

Ngày đất nước thống nhất, bác Tiến tiếp tục ở lại quân đội, làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, rà phá bom mìn, bảo vệ vùng mới giải phóng. Đến năm 1984, sau 17 năm quân ngũ, bác xuất ngũ trở về quê hương với cấp bậc hạ sĩ quan, mang theo trong người những vết thương của chiến tranh và cả một đời ký ức không thể quên.

Bác được tặng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Ba và nhiều giấy khen của đơn vị vì thành tích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trinh sát, bảo vệ an toàn cho đơn vị trong những năm chiến đấu ác liệt.

Khi được hỏi nhớ nhất điều gì trong chiến tranh, bác Tiến trầm ngâm một lúc rồi nói:
“Nhớ nhất là đồng đội. Có người nằm lại rừng sâu, có người không kịp về quê. Mình còn sống, trở về được là may mắn lắm rồi.”

Những năm tháng ấy, với bác Nguyễn Kim Tiến, không chỉ là chiến tranh, mà là thời tuổi trẻ đã gửi trọn cho Tổ quốc – một “Thời hoa lửa” âm thầm, gian khổ nhưng đầy tự hào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn