“ GIỮA TIẾNG CƯỜI MÌNH MẸ RƠI NƯỚC MẮT!” - KHXH
GIỮA TIẾNG CƯỜI MÌNH MẸ RƠI NƯỚC MẮT!” Bạn có bao giờ tự hỏi, một người có thể hy sinh như thế nào để đổi lấy độc lập tự do cho tổ quốc của họ? Hy sinh bản thân, đó không còn là chuyện hiếm gặp trong hai cuộc kháng chiến ở mảnh đất hình chữ S. Nhưng hiến dâng cả những đứa con ruột thịt của mình trước tổ quốc. Không phải một hay hai mà những chín người con đó là điều không phải ai cũng có thể làm được. Ít ai có thể hình dung được nỗi đau ấy cho đến khi nghe câu chuyện về cuộc đời mẹ Việt Nam anh
“ GIỮA TIẾNG CƯỜI MÌNH MẸ RƠI NƯỚC MẮT!”
Bạn có bao giờ tự hỏi, một người có thể hy sinh như thế nào để đổi lấy độc lập tự do cho tổ quốc của họ? Hy sinh bản thân, đó không còn là chuyện hiếm gặp trong hai cuộc kháng chiến ở mảnh đất hình chữ S. Nhưng hiến dâng cả những đứa con ruột thịt của mình trước tổ quốc. Không phải một hay hai mà những chín người con đó là điều không phải ai cũng có thể làm được. Ít ai có thể hình dung được nỗi đau ấy cho đến khi nghe câu chuyện về cuộc đời mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thích Thứ, một biểu tượng của đức hi sinh vô bờ. Một người mẹ đã hiến dâng tất cả vì độc lập dân tộc, biến nỗi đau thành ngọn lửa vĩnh cửu của lòng yêu nước, khiến cả dân tộc phải cúi đầu trước một bản hùng ca được viết bằng máu và nước mắt.
Mẹ Thứ, sinh ra tại Quảng Nam, một trong những vùng đất có bề dày lịch sử, nơi có những đóng góp to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước của dân tộc. Mẹ có 11 người con, trong đó có 10 người con trai và một người con gái. Những năm tháng đất nước lâm nguy, hai vợ chồng mẹ thứ bám trụ nơi xóm làng, ban ngày duy trì tăng gia sản xuất, ban đêm bí mật đào hầm nuôi dấu cán bộ. Căn hầm bí mật ẩn mình dưới những luồn cây xanh và bãi cỏ rậm rạp, trở thành một cứ điểm an toàn của hàng trăm cán bộ du kích. Khi tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc vang lên, mẹ Thứ nén lòng động viên các con ra trận. Từng người con của mẹ mang theo ý chí sắt đá và tình yêu quê hương đã dấn thân vào những cuộc chiến khốc liệt để rồi những ngày sau đó mẹ Thứ đã phải chịu đựng những nỗi đau mà không ai có thể tưởng tượng. Từng là thư báo tử, từng tin dữ cứ thế giáng xuống lần lượt mẹ nhận được chín giấy báo tử của chín người con trai. Mỗi mảnh giấy như mỗi lưỡi dao đâm sâu vào trái tim đang rỉ máu. Ngày 18/6/1948, Lê Tự Xuyến, người con trai là chiến sĩ giao liên đã gục ngã dưới làn đạn quân Pháp ngay tại đầu làng lối về quen thuộc. Chưa đầy nửa tháng sau vào ngày 05/10/1948, người con Lê Tự Hàn Anh đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ tại chiến trường. Chỉ 10 ngày sau đó, chiến sĩ Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong một trận càn quét ác liệt của địch nối tiếp sự hy sinh đầy đau đớn của anh mình. Tháng 4/1954, Lê Tự Lem, người con trai mới vừa tròn 20 tuổi đã hiến dâng tuổi thanh xuân rực rỡ cho quê hương trong một trận chiến khốc liệt. Chỉ trong vỏn vẹn sáu năm, bốn người con trai đã vĩnh viễn rời xa mẹ, nỗi đau dồn dập, tự chừng có thể quậc ngã bất kỳ ai. Nhưng nén lại đau thương, người mẹ ấy vẫn kiên cường động viên các con ra mặt trận khi đến tuổi trưởng thành. Năm 1966, chiến sĩ Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, hai chiến sĩ Lê Tự Mười và Lê Tự Trịnh nối gót những anh em của mình ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc. Năm 1974, chiến sĩ Lê Tự Thịnh, người đại đội trưởng tài ba ở Duy Xuyên đã hy sinh anh dũng khi chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Và rồi vào 9 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975, chỉ vài giờ trước khi đất nước hoàn toàn thống nhất, người con trai cả Lê Tự Truyện, một trong những chiến sĩ của lực lượng biệt động Sài Gòn đã vĩnh viễn nằm lại trên chiếc cầu Rạch Chiếc, nơi cửa ngõ tiến vào Sài Gòn, anh đã hy sinh khi ánh bình minh của hòa bình sắp ló dạng. Không chỉ vậy, mẹ Thứ cũng đã phải đón nhận tin con rể và hai cháu ngoại thân yêu đã ra đi mãi mãi. Người con rệ Ngô Tường trông bà Lê Thị Trị đã bị giặc Mỹ bắt tra tấn dã man cho đến chết. Hai cháu gái chiến sĩ Ngô Thị Điệu, Ngô Thị Cúc cũng lần lượt hy sinh vào năm 1970 và năm 1973.
Mỗi dịp dỗ trạp, Tết Nguyên Đán hay ngày Thương binh liệt sĩ, người ta thấy hình ảnh mẹ già lọm khọm chống gậy, kính trọng thắp chín ngọn nến, chín nén hương, xếp chín chiếc bát, chín đôi đũa trên mâm cơm để gọi các con trở về. Mẹ vẫn âm thầm gọi tên từng người con yêu quý dù biết rằng họ đã mãi mãi không thể quay về. Nỗi đau sự chờ đợi ấy đã vượt lên trên mọi giới hạn của thể xác và tinh thần, trở thành biểu tượng cho tình mẫu tử thiêng liêng và tấm lòng sắt son với tổ quốc. Khi một nhà báo cựu chiến binh Hàn Quốc hỏi mẹ rằng: “với quan niệm của người Á Đông, con cái là phúc lộc, là tài sản, khi người con thứ tư, thứ năm tử trận, tại sao bà vẫn tiếp tục động viên những người con khác ra mặt trận? Câu trả lời của mẹ Nguyễn Thị Thứ đã khiến cả Triệu trái tim phải sững sờ và kính phục. “Ở nước tôi, cụ Hồ đã dạy không có gì quý hơn độc lập tự do nên cứ là người Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng chiến đấu hy sinh để giành lấy độc lập tự do. Nếu còn chiến tranh, các con tôi rồi các cháu tôi sẽ vẫn tiếp tục ra trận để giành độc lập tự do bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”. Lời nói giản dị nhưng đầy kiên cường ấy, không chỉ là câu trả lời của riêng mẹ mà là tiếng lòng của cả một dân tộc đã trải qua bao cuộc chiến tranh khốc liệt. Đó là lời khẳng định đanh thép về lòng yêu nước nồng nàn, về ý chí bất khuất sẵn sàng hy sinh tất cả vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 2010, mẹ Nguyễn Thị Thứ đã ra đi hưởng thọ 106 tuổi, nhưng câu chuyện về cuộc đời mẹ và những người con anh hùng của mẹ vẫn sống mãi trong tâm trí người Việt. Sự hy sinh của gia đình mẹ Nguyễn Thị Thứ là minh chứng hùng hôn cho câu nói “Đứa con cuối cùng mẹ cũng dành cho Tổ quốc”. Đó là sự hy sinh cao cả nhất, lớn lao nhất mà một người mẹ có thể dành cho đất nước mình. Mẹ Nguyễn Thị Thứ không chỉ là một bà mẹ Việt Nam anh hùng mà còn là một huyền thoại, một biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và tinh thần kiên cường của người phụ nữ Việt Nam.


