Bài viết

Ký ức khói lửa - Dấu Chân Người Lính

Bối cảnh chính của phim là sự kiện Mùa hè đỏ lửa 1972 với trận chiến tại Thành cổ Quảng Trị. Nhân vật chính trong phim là bốn sinh viên trường đại học Tổng hợp Hà Nội Hoàng, Thành, Thăng, Long theo lệnh tổng động viên lên đường nhập ngũ năm 1971, được huân luyện tốc hành và sau cùng đã tham gia chiến đấu tại Thành cỗ Quảng Trị năm 1972. Tại đây, Thành, Thăng, Long đã hy sinh còn Hoàng may mắn sống sót trở về. Khi đã về già, sau chuỗi sự kiện đầy đau khổ Hoàng đã quay về nơi chiến trường năm ấy.

Lào Cai19/08/2026Đoàn xã Thạnh An, thành phố Cần Thơ (Đoàn xã Thạnh An)14 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ký ức khói lửa - Dấu Chân Người Lính

Tôi là Hoàng, một người lính trẻ từng chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, nhưng ký ức về 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, từ 28/6 đến 16/9 năm 1972, vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí tôi dù là những chi tiết nhỏ nhất.

Ngày chia tay giảng đường đại học, tôi cùng Thành, Thăng và Long đều mang trong mình bao ước mơ của tuổi đôi mươi. Chúng tôi yêu thơ, yêu những buổi chiều yên bình bên sông Hồng và tin rằng chiến tranh sẽ sớm kết thúc. Nhưng khi Tổ quốc cần, tất cả đều tình nguyện lên đường nhập ngũ. Nhưng đâu biết rằng ngày chia tay giảng đường đại học có thể là ngày cuối chúng tôi được chụp ảnh cùng nhau.

Đầu năm 1972, quân giải phóng mở cuộc Tiến công chiến lược trên khắp chiến trường miền Nam. Ngày 1 tháng 5 năm 1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng. Tuy nhiên, ngay sau đó, quân đội Việt Nam Cộng hòa với sự yểm trợ hỏa lực mạnh của không quân và hải quân Hoa Kỳ đã mở cuộc phản công nhằm tái chiếm Quảng Trị. Đơn vị của tôi nhận lệnh vượt sông Thạch Hãn để vào giữ Thành cổ.

Đêm vượt sông Thạch Hãn, ai cũng biết phía trước là ranh giới giữa sự sống và cái chết. Những chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ chở người, đạn dược và lương thực sang bờ nam. Pháo địch liên tục bắn xuống dòng sông. Có những con thuyền chưa kịp cập bến đã bị đánh chìm, đã có rất nhiều đồng đội phải bỏ lại ánh sáng mà lặng dần xuống nơi tối tăm, lạnh lẽo nhất của dòng sông. Những người lính khác dù qua được tới bờ bên kia cũng không cảm thấy dễ chịu gì hơn nhưng không có nhiều thời gian để sầu não, chúng tôi chỉ biết nén đau thương để tiếp tục tiến lên.

Bước vào Thành cổ, tôi mới cảm nhận hết sự khốc liệt của chiến tranh. Bom từ máy bay, pháo từ hạm đội ngoài biển và pháo binh từ nhiều hướng dội xuống ngày đêm. Những bức tường thành hàng trăm năm tuổi bị san phẳng. Mặt đất bị cày xới liên tục, cây cối cháy trụi, khói bụi phủ kín bầu trời. Chúng tôi chiến đấu trong những căn hầm ngập bùn đất, thiếu nước uống, thiếu lương thực và thuốc men. Có những ngày chỉ còn vài miếng lương khô và một bi đông nước phải chia cho cả tổ.

Mỗi ngày, quân địch đều mở nhiều đợt tiến công với xe tăng, bộ binh và hỏa lực mạnh nhằm chiếm từng góc thành. Chúng tôi kiên cường bám trụ, giành giật từng mét đất. Ban ngày chiến đấu, ban đêm sửa công sự, đưa thương binh ra phía sau và tiếp nhận lực lượng chi viện. Dù mệt mỏi và đói khát, không ai nghĩ đến việc rời bỏ trận địa. 

Những lúc tiếng bom tạm ngừng, chúng tôi lại quây quần bên nhau trong căn hầm nhỏ. Thành lấy cuốn sổ đã sờn mép đọc những vần thơ vừa viết, còn Long và Thăng vừa nghe vừa cười, thỉnh thoảng lại trêu rằng sau chiến tranh Thành nhất định sẽ trở thành nhà thơ nổi tiếng. Tôi ngồi tựa lưng vào vách hầm, vừa lau khẩu súng vừa lắng nghe giọng đọc của bạn. Có lúc cả bốn cùng nhắc về Hà Nội, về giảng đường đại học, về những hàng cây mùa thu và những ngày được sống cuộc đời của một sinh viên. Chúng tôi còn hẹn nhau rằng khi đất nước thống nhất sẽ cùng trở về trường học, cùng ngồi bên ly trà, đọc lại những bài thơ đã viết giữa chiến trường. Tiếng cười của tuổi đôi mươi vang lên giữa khói lửa, ngắn ngủi nhưng ấm áp. Không ai ngờ rằng đó lại là những khoảnh khắc bình yên cuối cùng trước khi những trận bom dữ dội cướp đi từng người đồng đội của tôi.

Trong một đợt pháo kích dữ dội của đối phương vào Thành cổ Quảng Trị, Long cùng đơn vị kiên cường bám trụ để giữ vững trận địa. Đạn pháo nổ liên tiếp khiến công sự bị sập, khói bụi mịt mù. Dù biết phía trước là hiểm nguy, Long vẫn không rời vị trí chiến đấu. Khi trận pháo vừa dứt, tôi gọi tên Long nhưng không còn nghe thấy tiếng đáp. Người bạn từng cùng tôi đọc thơ, cười đùa và hẹn ngày trở về đã mãi mãi nằm lại trên mảnh đất Thành cổ.

Sau nhiều ngày đêm bám trụ tại Thành cổ Quảng Trị, đơn vị chúng tôi ngày càng vơi đi vì bom đạn. Thăng vẫn luôn là người lạc quan, thường động viên anh em cố gắng vượt qua gian khổ và tin vào ngày chiến thắng. Trong một đợt tiến công dữ dội của đối phương, khi cả đơn vị đang kiên cường giữ trận địa giữa mưa bom và pháo kích, Thăng đang đi lại đường liên lạc bị cháy nổ trong trận chiến, không may bị địch phát hiện và bị bắn. Mới hôm nào chúng tôi còn ngồi bên nhau, cùng chia nhau từng mẩu lương khô, cùng kể về những dự định sau ngày hòa bình, vậy mà giờ đây tôi chỉ có thể nhìn người bạn thân thiết nằm im trên bãi cỏ cháy. 

Những ngày cuối của trận chiến, bom đạn trút xuống Thành cổ Quảng Trị với cường độ ngày càng dữ dội. Thành cùng với tôi và các đồng chí khác vẫn kiên cường bám trụ, quyết không để đối phương chiếm được trận địa. Tưởng chừng ông trời đang dần về nghiêng về phía chúng tôi thì một quả bom được giáng xuống mang tôi về thực tại. Khi đang chiến đấu cùng đồng đội dưới làn pháo kích dồn dập thì cây súng của Thành lại đột ngột hết đạn, giữa tình huống bị bao vây bởi kẻ địch Thành đã liều mình cầm mũi giáo lên chạy thẳng vào quân địch và rồi cứ thế Thành đã hi sinh anh dũng. Tôi chạy đến gọi tên bạn trong làn khói bụi, nhưng chỉ còn lại cuốn sổ thơ thấm đẫm bùn đất. Người bạn từng mang đến tiếng cười và những vần thơ giữa chiến trường đã mãi mãi nằm lại ở tuổi đôi mươi.

Đến ngày 16 tháng 9 năm 1972, sau 81 ngày đêm chiến đấu liên tục, cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị khép lại. Tôi là một trong số ít người còn sống trở về, nhưng tuổi trẻ của biết bao đồng đội đã gửi lại nơi mảnh đất ấy. Sự hi sinh của họ đã góp phần làm nên bản anh hùng ca bất diệt, tạo tiền đề quan trọng cho Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 và thắng lợi hoàn toàn của dân tộc sau này.

Mỗi lần trở lại Quảng Trị, đứng bên dòng sông Thạch Hãn và trước Thành cổ, tôi lại nhớ đến những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi đây. Họ đã hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do của đất nước. Tôi mong rằng thế hệ trẻ hôm nay sẽ luôn trân trọng hòa bình, biết ơn những người đã ngã xuống và không ngừng học tập, rèn luyện để xây dựng một Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn