Bài viết

Gói cơm rang của người con gái Diễn Đoài

Nghệ An20/08/2026Xã Hùng Châu (Đoàn xã Hùng Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Bà Sen thường bảo với con cháu rằng trong nhà bà, vật quý nhất không phải chiếc tủ gỗ hay mấy tấm giấy khen đã ngả màu. Vật quý nhất là một chiếc túi vải nâu nhỏ, được may từ mảnh áo cũ của mẹ bà.

Chiếc túi ấy đã theo cô gái Nguyễn Thị Sen rời Diễn Đoài vào một buổi sáng năm 1967.

Sen khi đó mười tám tuổi, dáng người nhỏ, tóc tết thành hai bím. Biết tin địa phương tuyển thanh niên xung phong, cô viết đơn tình nguyện. Mẹ cô đọc xong chỉ ngồi im bên bếp. Đến tối, bà lấy chiếc áo nâu đã sờn, cắt một mảnh còn lành rồi ngồi khâu thành chiếc túi.

Sáng hôm Sen lên đường, mẹ rang một ít gạo, giã nhỏ với muối vừng rồi cho vào túi. Bà dặn con lúc nào đói quá thì lấy một nắm ăn, nhưng nhớ chia cho đồng đội.

Chiếc xe chở thanh niên rời làng trong tiếng gọi với theo của người thân. Sen nhìn hàng tre, mái nhà và những cánh đồng Diễn Đoài lùi dần phía sau. Cô không khóc trước mặt mẹ. Chỉ khi xe đi khuất, Sen mới quay mặt, lặng lẽ lấy tay lau mắt.

Đơn vị của Sen được phân công làm nhiệm vụ trên tuyến đường 15A. Công việc chủ yếu là san lấp những đoạn đường bị hư hỏng, mở lối cho xe qua, chuyển vật liệu và hỗ trợ các đoàn vận tải. Ban ngày, khi tình hình căng thẳng, đơn vị nghỉ tại nơi trú ẩn. Đêm xuống, mọi người lại ra đường làm việc.

Lần đầu cầm cuốc giữa đêm, bàn tay Sen phồng rộp. Cô từng quen việc đồng áng nhưng chưa bao giờ làm liên tục trong điều kiện gấp gáp như thế. Đất đá nặng, đường trơn, ánh sáng phải hạn chế. Có lúc đang làm, cả đơn vị lại nhận tín hiệu báo động, phải nhanh chóng vào vị trí an toàn.

Trong tiểu đội của Sen có Hòa, cô gái quê Yên Thành; Lý quê Thanh Chương và Oanh quê Nghi Lộc. Mỗi người nói một giọng hơi khác, nhưng chỉ vài tuần đã thân nhau như chị em. Các cô chia từng ngụm nước, đổi cho nhau chiếc khăn khô và nhắc nhau viết thư về nhà.

Một đêm mưa, đơn vị nhận nhiệm vụ khắc phục một đoạn đường bị sạt lở. Nước từ trên đồi đổ xuống khiến đất nhão ra, cuốc vừa bổ xuống đã bị dính chặt. Mọi người làm từ đầu hôm đến gần sáng mà bụng đói cồn cào.

Sen nhớ đến chiếc túi của mẹ. Cô mở ra, thấy cơm rang chỉ còn chưa đầy hai nắm. Sen chia thành bốn phần nhỏ. Hòa nhìn phần cơm trên tay, cười bảo ít ri thì ăn mần răng no. Sen đáp rằng ăn để nhớ mùi bếp quê chứ không phải để no.

Bốn cô gái ngồi sát bên nhau dưới tấm áo mưa, mỗi người nhón từng hạt cơm rang. Mùi gạo, mùi muối vừng và mùi vải nâu cũ khiến Sen tưởng như đang ngồi cạnh bếp nhà. Chỉ trong phút chốc, cô nhớ tiếng mẹ gọi gà, nhớ luống khoai bên vườn và nhớ con đường đất dẫn ra đồng.

Ăn xong, mọi người lại đứng lên làm việc. Đến gần sáng, đoạn đường được mở. Những chiếc xe lần lượt đi qua, đèn được che kín, chỉ nghe tiếng máy vọng trong sương. Các cô đứng nép bên đường, bàn tay lấm đất nhưng ai cũng vui.

Sau đêm ấy, chiếc túi vải không còn cơm rang. Sen vẫn giữ nó để đựng kim chỉ và vài lá thư. Khi áo đồng đội bị rách, cô lấy kim khâu lại. Khi cúc áo mình đứt, chiếc túi nhỏ lại giúp cô cất chiếc cúc dự phòng. Mảnh áo cũ của mẹ vì thế cứ theo Sen trên những cung đường.

Có lần Hòa bị sốt, đơn vị cho nghỉ. Sen ở lại chăm bạn, nấu bát cháo loãng và lấy khăn đắp lên trán. Hòa áy náy vì sợ mọi người phải làm thay phần việc của mình. Sen bảo khi khỏe thì làm, khi ốm thì để đồng đội chăm; đã đi cùng nhau thì chẳng ai bị bỏ lại.

Những năm tháng thanh niên xung phong của Sen không chỉ có gian khổ. Giữa rừng, các cô vẫn tìm được niềm vui. Một nhành hoa dại cắm bên cửa lán cũng làm nơi ở sáng lên. Một lá thư từ quê được chuyền tay đọc đi đọc lại. Hôm nào đường thông, xe qua an toàn, cả đơn vị coi đó là một ngày vui.

Năm 1971, Sen hoàn thành nhiệm vụ, trở về Diễn Đoài. Mẹ cô đã già đi nhiều. Vừa nhìn thấy con ngoài ngõ, bà chạy ra, sờ vai, sờ tóc như muốn biết con có thật sự nguyên vẹn trở về hay không.

Sen đưa cho mẹ chiếc túi vải. Bà nhận ra ngay mảnh áo cũ của mình. Chiếc túi đã bạc màu, có thêm vài đường vá, nhưng vẫn còn nguyên. Mẹ không hỏi con đã trải qua những gì, chỉ ôm chiếc túi vào lòng rồi bảo về được là quý rồi.

Sau chiến tranh, bà Sen làm ruộng, nuôi con và tham gia công việc của xóm. Cuộc sống còn khó khăn, nhưng bà hiếm khi than phiền. Mỗi lần con cháu bỏ thừa cơm, bà không quát mắng. Bà chỉ kể về bốn cô gái từng chia nhau chưa đầy hai nắm cơm rang trong một đêm mưa.

Bà dặn các cháu rằng lòng yêu nước không phải lúc nào cũng bắt đầu từ việc lớn. Nó có thể bắt đầu từ việc biết chia một phần cơm, biết chăm người bạn đang ốm, biết hoàn thành công việc chung và biết nhớ về quê hương dù đang ở nơi xa.

Ngày nay, Diễn Đoài cũ đã cùng Diễn Lâm, Diễn Trường và Diễn Yên trở thành xã Hùng Châu. Những con đường rộng hơn, xe cộ đi lại thuận tiện hơn. Chiếc túi vải nâu vẫn nằm trong chiếc hộp nhỏ của gia đình bà Sen.

Mỗi lần mở hộp, bà lại thấy mình như cô gái mười tám tuổi năm nào, đứng ở đầu làng, sau lưng là tiếng mẹ gọi, trước mặt là một chặng đường dài.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn