Khác

GÓI KÝ NINH CỦA ANH Y TÁ SỐ 28

An Giang28/10/2026Trần Hữu Long (Đoàn xã Long Hà)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
GÓI KÝ NINH CỦA ANH Y TÁ SỐ 28

Cuối tháng Chạp năm Kỷ Tỵ (đầu năm 1930), gió chướng thổi hun hút qua những lô cao su bạt ngàn của đồn điền Michelin. Tiết trời Phú Riềng về đêm lạnh cắt da, sương mù từ dưới khu rừng suối Đá bốc lên đặc quánh, quyện vào mùi mủ cao su chua nồng đến nghẹt thở. Trong những dãy lán trại tồi tàn ở Làng 3, hàng ngàn người phu cao su vừa kết thúc một ngày lao dịch mười bốn tiếng đồng hồ. Tiếng ho sù sụ vì sốt rét rừng, tiếng thở dài não ruột của những thân phận tha hương hòa lẫn trong tiếng côn trùng rả rích.

Cánh cửa gỗ ọp ẹp của lán số 4 khẽ cọt kẹt mở. Một chàng thanh niên dáng người dong dỏng, khoác chiếc áo bluse trắng đã ngả màu cháo lòng của nhà thương đồn điền, tay xách túi thuốc bước vào. Trên ngực áo bên trái của anh vẫn còn vết khâu chiếc thẻ nhôm khắc con số 28 — số sưu của một người phu cạo mủ trước khi được điều về làm y tá nhờ biết chữ Quốc ngữ và tiếng Tây.

— Anh Tư còn sốt nhiều không? Tôi mang thuốc ký ninh của nhà thương xuống cho anh em đây.

Giọng nói ấm áp vừa cất lên, mấy người phu đang nằm co ro trên sạp nứa vội nhổm dậy. Đó là anh Trần Tử Bình — người mà bà con công nhân khắp mười làng đồn điền vẫn coi như ruột thịt. Không chỉ bởi anh là thầy thuốc duy nhất không bao giờ quát tháo hay khinh rẻ người phu, mà vì ai cũng ngầm hiểu: trong chiếc túi vải đeo bên hông người thanh niên hai mươi ba tuổi ấy không chỉ có thuốc trị sốt rét, mà còn có "thuốc" chữa cái kiếp nô lệ của năm ngàn con người nơi địa ngục trần gian này.

Anh Bình ngồi xuống cạnh ngọn đèn dầu tù mù, bàn tay thoăn thoắt mở từng gói giấy nhỏ. Bên trên là mấy viên ký ninh vàng đắng, nhưng lớp giấy gói bên dưới lại là những tờ truyền đơn in bằng thạch bản còn thơm mùi mực mới của tờ báo Giải Phóng.

Một người phu già ghé sát tai anh, giọng lo lắng: — Anh Bình này, sáng nay thằng chủ Tây lại cho lính mã tà vây bắt mất anh Cừ rồi. Rắn mất đầu, Tết nhất đến nơi mà gạo mục, cá thối chúng nó cũng cắt xén, phụ nữ sinh đẻ không có lấy một lon gạo nấu cháo. Anh em ở Làng 2, Làng 5 đang uất ức lắm, chỉ chực cầm dao cạo mủ liều chết với tụi cai xếp thôi!

Ánh mắt Trần Tử Bình chợt đanh lại dưới ánh đèn dầu. Việc đồng chí Nguyễn Xuân Cừ — Bí thư Chi bộ đầu tiên của Phú Riềng — sa vào tay giặc là một tổn thất lớn. Ngay trong chiều hôm ấy, tại khu rừng kín đáo bên bờ suối Đá, Chi bộ đã họp khẩn cấp và giao lại trọng trách Bí thư cho anh. Đôi vai chàng trai trẻ tuổi đất Hà Nam bỗng nặng trĩu vận mệnh của cả một vùng đồn điền rộng hàng ngàn héc-ta.

Anh Bình đặt tay lên vai người phu già, giọng trầm xuống nhưng rắn rỏi lạ thường: — Bác và anh em đừng manh động lẻ tẻ mà thiệt mạng vô ích. Anh Cừ bị bắt, nhưng Chi bộ Đảng vẫn còn đây, Đội xích vệ vẫn còn đây! Đêm qua, chúng tôi đã quyết rồi. Không thể khom lưng xin xỏ chúng nó mãi được. Giao thừa năm nay, năm ngàn anh chị em mình sẽ cùng thắp lên một ngọn lửa lớn ngay giữa đất Phú Riềng này!

Đúng đêm Ba mươi rạng sáng Mồng Một Tết Canh Ngọ (30/01/1930), khi bọn chủ Tây và đám cai xếp đang say sưa bên những bàn tiệc rượu sâm-banh ở khu dinh thự, thì từ sâu trong các khu rừng cao su, tiếng tù và bằng sừng trâu, tiếng kẻng, tiếng trống ngũ liên bỗng nổi lên dậy đất.

Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bí thư Trần Tử Bình, hàng trăm thanh niên nam nữ trong Đội xích vệ — tay cầm gậy tầm vông, giáo mác, dao cạo mủ, cánh tay buộc băng đỏ — răm rắp tỏa đi khắp mười làng công nhân. Từ Làng 1 đến Làng 10, năm ngàn người phu cao su vốn bị coi là những cái bóng lầm lũi bỗng chốc hóa thành một biển người cuồn cuộn chảy về khu trung tâm Làng 3.

Sáng ngày 3 tháng 2 năm 1930, lần đầu tiên trên bầu trời Phú Riềng, lá cờ đỏ búa liềm kiêu hãnh tung bay trên nóc nhà máy và dinh chủ nhất. Trần Tử Bình đứng trên bậc thềm cao, trước mặt là hàng ngàn anh chị em công nhân đồng hương từ khắp Bắc - Trung - Nam hội tụ về đây. Anh dõng dạc đọc to bản yêu sách 11 điểm của công nhân gửi tên chủ đồn điền Michelin: Bỏ đánh đập, cúp phạt! Ngày làm việc tám giờ! Cấp gạo và cho nghỉ có lương đối với phụ nữ sinh đẻ! Trả tự do cho những người bị bắt!

Chủ Tây hoảng hồn, vội vã đánh điện cầu cứu về Sài Gòn.

Sáng hôm sau, mặt đất đỏ bazan rung chuyển bởi tiếng động cơ xe nhà binh. Thống đốc Nam Kỳ Krautheimer cùng tên cò lính Pháp dẫn theo hàng trăm lính khố xanh và lính lê dương súng ống sáng loáng kéo lên hòng dìm cuộc bãi công trong biển máu. Xe nhà binh vừa dừng trước cổng Làng 3, tên cò Tây đã nhảy xuống, rút súng lục quát tháo, ra lệnh cho lính dàn hàng ngang chĩa mũi lê vào đoàn biểu tình.

Không một ai lùi bước. Từ phía sau chiến lũy bằng những thân cây cao su vừa đốn hạ chắn ngang đường, Trần Tử Bình phất tay ra hiệu.

Lập tức, hàng trăm nam nữ Đội xích vệ từ hai bên rừng cao su ập ra như gọng kìm. Các chị, các cô công nhân khiêng từng chảo nước đang sôi sùng sục cùng những thúng tro bếp áp sát hàng quân địch. Anh Bình dẫn đầu đội xung kích lao thẳng tới, bằng một thế võ nhanh như chớp, anh cùng anh em xích vệ quật ngã tên cò Pháp, tước gọn khẩu súng lục ngay trước mũi súng của đám lính lê dương đang ngơ ngác.

Bị tước vũ khí bất ngờ, lại thấy biển người công nhân đằng đằng sát khí vây chặt tứ phía, đám lính khố xanh vốn cũng là con em nông dân nghèo liền hạ mũi súng xuống. Tên chủ nhất đồn điền và tên cò Pháp mặt cắt không còn giọt máu, run rẩy nhìn chàng y tá trẻ tuổi đang đứng sừng sững giữa vòng vây của năm ngàn phu cao su.

Ngay chiều hôm ấy, tại bàn đàm phán giữa khu đồn điền do công nhân làm chủ completely, trước lý lẽ đanh thép và khí thế áp đảo của Trần Tử Bình, đại diện hãng Michelin đã phải cúi đầu đặt bút ký chấp nhận toàn bộ bản yêu sách của công nhân Phú Riềng.

Đêm xuống, rừng cao su Phú Riềng không còn tiếng roi vọt hay tiếng khóc than. Quanh những đống lửa hồng rực sáng trước sân Làng 3, hàng ngàn người phu ôm lấy nhau vừa cười vừa khóc. Giữa ánh lửa bập bùng soi rõ màu đất đỏ bazan thấm đẫm mồ hôi và máu, người thanh niên mang "sưu số 28" Trần Tử Bình ngước nhìn lá cờ đỏ đang phần phật bay trong gió xuân — khởi đầu cho một trang sử bất khuất mà bốn mươi lăm năm sau, lớp con cháu như cô giao liên Út Miên, anh chiến sĩ Nghĩa trên mảnh đất Long Hà – Phú Riềng vẫn tiếp tục viết nên bằng tất cả tuổi thanh xuân của mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn