Bài viết

GS. Hoàng Minh Giám (1904-2014) – một trí thức yêu nước tiêu biểu, một nhà giáo tận tụy, tâm huyết – một chính khách tài năng vượt trội, mẫu mực và hào hoa (Phần 2 và hết)

Phú Thọ23/01/2026Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Ngọc Sơn (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Ngọc Sơn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

13 giờ 25 phút ngày 12 tháng 01 năm 1995 (tức ngày 12 tháng Chạp, năm Giáp Tuất), Giáo sư Hoàng Minh Giám qua đời, hưởng thọ 91 tuổi. Thay mặt Đảng, Quốc hội, Nhà nước và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Lê Quang Đạo, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã trịnh trọng đọc điếu văn trong lễ truy điệu cấp nhà nước, tiễn đưa Giáo sư Hoàng Minh Giám về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong bản Điếu văn đó, Chủ tịch Lê Quang Đạo vừa xác tín những cương vị mà Giáo sư Hoàng Minh Giám đã đảm nhận từ năm 1926 cho tới 1987, vừa nêu bật những cống hiến to lớn của giáo sư cho sự bình yên của Tổ quốc, của nhân dân và nhấn mạnh “Do công lao và những đóng góp to lớn, quí báu của đồng chí (tức Giáo sư Hoàng Minh Giám) cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đồng chí Hoàng Minh Giám đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huy chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân và Bộ Ngoại giao trao tặng Huy chương Vì sự nghiệp ngoại giao Việt Nam. Đồng chí được tặng nhiều huân, huy chương khác của nước ngoài và các bộ, ngành”. Và tên của Giáo sư đã được đặt cho một đường phố ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoàng Minh Giám (người thứ ba từ trái sang) trong Phái đoàn Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phái đoàn Anh, Pháp, Quốc dân Đảng gặp nhau ở Ô Chợ Dừa (Hà Nội) để bàn về việc chấm dứt những vụ khiêu khích cuối tháng 12/1946.Gần 20 năm kể từ khi Giáo sư Hoàng Minh Giám qua đời, chúng ta đã có thời gian đủ dài để tìm hiểu kỹ hơn, sâu hơn về con người và sự nghiệp của Giáo sư Hoàng Minh Giám. Tôi đã tìm đọc những công trình xuất bản những năm gần đây (không kể những bài báo của nhiều tác giả đăng trên các tạp chí, báo ngày, báo tuần, báo tháng…) như:- Hoàng Minh Giám - con người và lịch sử - NXB Lao Động – HN, 1995- tuyển tập những bài viết về GS.Hoàng Minh Giám.- Đinh Xuân Lâm- Trương Hữu Quýnh (chủ biên). Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – NXB Giáo dục – HN.1999 – Tr.149 - Hoàng Minh Giám (1904- 1995)- Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Trí thức Việt Nam Xưa và Nay – NXB Văn hóa – Thông tin – HN.2005, bài: Đồng chí Hoàng Minh Giám của Lê Quang Đạo,Tr.1149.- NXB Thông tấn – Bác Hồ với nhân sĩ, trí thức – HN.2005, bài: Người trợ thủ tin cậy của Bác Hồ trong các cuộc đấu tranh ngoại giao đầu tiên, Tr.156-175.- Bộ Ngoại giao. Chân dung cố Bộ trưởng Bộ Ngoại giao – (Tuyển tập nhiều bài viết của nhiều tác giả về Bộ trưởng Hoàng Minh Giám) – NXB Chính trị Quốc gia – HN.2005.- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Hoàng Minh Giám – Người con của thế hệ vàng (Tuyển tập nhiều bài viết của nhiều tác giả về Bộ trưởng Hoàng Minh Giám) - NXB Chính trị Quốc gia - HN.2013.Tôi lĩnh hội được nhiều nội dung trực tiếp, hoặc gián tiếp về thân thế và sự nghiệp của Giáo sư Hoàng Minh Giám và đặc biệt xúc động khi được đọc lại những dòng viết trong sổ tang lễ Bộ trưởng của Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam – Đỗ Mười; Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Trung tướng Lê Quang Đạo, học trò của Giáo sư, Hiệu trưởng Trường tư thục Thăng Long. Qua các công trình nói trên, qua các nguồn sử liệu khác, tôi nhận ra GS. Hoàng Minh Giám không chỉ là nhân chứng của nhiều sự kiện lịch sử trọng đại mà còn là một trong những nhân vật lịch sử tiêu biểu của thời đại Hồ Chí Minh.II. Những đóng góp của GS. Hoàng Minh Giám cho sự nghiệp xây dựng nền văn hóa mới.Theo sự phân công của Đảng, Nhà nước và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, GS. Hoàng Minh Giám thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao để nhận nhiệm vụ mới, thử thách mới: Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền (8/1954-9/1955); Bộ trưởng Bộ Văn hóa (9/1955-6/1976) trong bối cảnh đất nước ở trạng thái vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh, khó khăn và thách thức không ít.Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Trường Chinh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám (người bên phải) tham quan hệ thống trưng bày Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), ngày 6/1/1959.Với bản lĩnh chính trị vững vàng, phát huy đúng lúc, đúng chỗ vốn kiến thức uyên bác và mẫu mực trong quản lý, chỉ đạo, đoàn kết, tạo dựng ý thức cộng đồng trách nhiệm, phát huy tới mức cao độ tài năng của từng cá nhân, từng binh chủng trong lực lượng văn hóa, trong toàn dân, Bộ trưởng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, ghi dấu ấn sâu đậm trong sự nghiệp xây dựng trong nền văn hóa mới.Hơn 20 năm (chính xác là 22 năm), với cương vị là Bộ trưởng, GS. Hoàng Minh Giám cùng với tập thể lãnh đạo Bộ, với lực lượng toàn ngành đã đạt được các kỳ tích sau:Một là: Xây dựng hệ thống các văn bản chỉ đạo về tư tưởng chính trị, về quy phạm pháp luật trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ ban hành đảm bảo cho nội dung xây dựng nền văn hóa mới đúng với yêu cầu của Đảng, của Nhà nước và có đủ đầy các văn bản đảm bảo cơ sở pháp lí cho việc xây dựng nền văn hóa mới.Chỉ riêng trong lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tôi đã tìm ra gần 50 văn bản có nội dung như trên trong giai đoạn Giáo sư làm Bộ trưởng. Trong số đó có Thông Tri số 38/TT.TU, ngày 28 tháng 6 năm 1956 của Đảng Lao động Việt Nam về việc bảo vệ những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, có Nghị định số 519/TTg, ngày 29 tháng 10 năm 1957 của Phủ Thủ tướng về bảo tồn di tích lịch sử - Đây là Nghị định đầu tiên của Chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về di tích và Nghị định này có hiệu lực tới năm 1984, khi được thay thế bằng Pháp lệnh bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh…và 30 Thông tri (có cả thông tri liên tịch giữa Bộ Văn hóa với cục Lâm nghiệp, giữa Bộ Văn hóa với các lực lượng vũ trang, giữa Bộ Văn hóa với Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của Đế quốc Mỹ ở Việt Nam về bảo vệ di tích khảo cổ học, sưu tầm hiện vật, bảo vệ các di tích chống Mỹ cứu nước…), Chỉ thị, Công văn hướng dẫn các ngành, các cấp, các địa phương thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về kiểm kê bảo tồn di sản văn hóa, lập hồ sơ xếp hạng di tích, sưu tầm, lưu giữ tài liệu chữ Hán, chữ Nôm…Hai là: Xây dựng hệ thống tổ chức của ngành từ Trung ương đến các địa phương vừa đảm nhận chức năng quản lí Nhà nước về văn hóa, vừa tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa mới, nếp sống mới, con người mới. Hệ thống tổ chức này chưa từng có dưới chế độ cũ (Phong kiến và Thực dân).Ba là: Đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa nghệ thuật theo hướng truyền nghề trực tiếp, đào tạo qua hệ thống các trường của Bộ và chọn cử đưa cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài. GS Hoàng Minh Giám cho rằng: “Công tác đào tạo cán bộ được coi là vấn đề then chốt có tính quyết định nhất, nên đã đặt lên hàng đầu và kiên quyết thực hiện.Từ khi hòa bình lập lại, chúng ta đã đào tạo được 3.583 cán bộ văn hóa nghệ thuật tốt nghiệp trung cấp và đại học. Hiện nay vẫn còn 1.038 cán bộ văn hóa nghệ thuật đang theo học tại các trường trung cấp và đại học. Đó là chưa kể hàng nghìn hạt nhân văn hóa nghệ thuật quần chúng đã được bồi dưỡng trong các lớp ngắn hạn và tại chức ngoài giờ sản xuất ở các địa phương.Nhờ tích cực đào tạo cán bộ, chúng ta đã có thêm lực lượng mới để bổ sung cho các đơn vị văn hóa nghệ thuật ở trong nước, tổ chức thêm được một số đơn vị văn hóa nghệ thuật mới ở địa phương nhằm đáp ứng đòi hỏi sinh hoạt tinh thần ngày càng cao của nhân dân.”Với tầm tư duy chiến lược cao, Bộ trưởng rất chú ý tới việc đào tạo cán bộ của ngành có trình độ cao, bồi dưỡng các tài năng nghệ thuật, phát huy được nghề. Tính đến năm 1995, ngành văn hóa có 4 tiến sĩ khoa học gồm các chuyên ngành Lịch sử (Khảo cổ: TSKH. Lưu Trần Tiêu), Sân khấu (TSKH. Nguyễn Đình Quang), Nghệ thuật (TSKH.Tô Ngọc Thanh), Văn hóa (TSKH. Huỳnh Khái Vinh); 95 Tiến sĩ thuộc nhiều lĩnh vực của văn hóa nghệ thuật.15 cán bộ khoa học được nhà nước trao tặng học hàm Giáo sư, 56 Phó giáo sư; 6 nhà giáo nhân dân, 46 nhà giáo ưu tú; 92 nghệ sĩ nhân dân, 537 nghệ sĩ ưu tú. Trong số trên, tuyệt đại bộ phận đều được đào tạo và làm việc dưới thời Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám. Đào tạo hàng nghìn cán bộ, tạo hạt nhân cho các hoạt động văn hóa ở Việt Nam khi đất nước còn bị chia cắt làm hai miền…Bốn là: Xây dựng đồng bộ các thiết chế văn hóa từ Trung ương đến các địa phương. Đó là: Thư viện, Bảo tàng, Nhà xuất bản, Nhà in, báo chí, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn…Riêng lĩnh vực bảo tồn bảo tàng, Bộ trưởng đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng Viện Bảo tàng Lịch sử (1958), Viện Bảo tàng Cách mạng (1959), Viện Bảo tàng Việt Bắc, Viện Bảo tàng Mỹ thuật, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Xô Viết – Nghệ Tĩnh, Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bảo tàng Khởi nghĩa Bắc Sơn, Bảo tàng Khu Hồng Quảng, Bảo tàng Thành phố Hải Phòng…Trực tiếp kí quyết định xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh (Từ năm 1962 đến lúc Bộ trưởng chuyển sang làm chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại của Quốc hội), trực tiếp chỉ đạo việc bảo tồn tháp Bình Sơn, bia Vĩnh Lăng (Khu di tích Lam Kinh, Thanh Hóa).Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám duyệt phòng trưng bày chuyên đề“Tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam” tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử quốc gia), ngày 20/11/1974.Năm là: Mở rộng quan hệ đối ngoại về văn hóa nghệ thuật. Ký kết 54 Nghị định thư trao đổi về văn hóa giữa nước ta với các nước khác, cử 98 đoàn văn hóa nước ta ra nước ngoài công tác và biểu diễn, tiếp đón 110 đoàn văn hóa – nghệ thuật của nước ngoài vào nước ta công tác, biểu diễn trong đó có các nước Tư bản như Pháp, Ý…Tham gia phim liên hoan Quốc tế, triển lãm mỹ thuật Quốc tế…nghĩa là bước đầu đưa văn hóa nghệ thuật Việt Nam tới các nước để giới thiệu và quảng bá.Sáu là: Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa – nghệ thuật cho toàn dân theo các tiêu chí: Số báo, tạp chí xuất bản (đơn vị tính 1.000 tờ), năm 1965 là 84.000; 1976 là 222.000, bình quân đầu người từ 2,4 tăng lên 6,1 tức 1 người được đọc 2,4 đến 6,1 tờ báo; Tổng số phim sản xuất: năm 1965 (đơn vị tính bằng bộ) là 115 bộ, 1976 là 98 bộ, bình quân 1 người dân được xem trên 4,3 lần chiếu/ năm. Số người xem biểu diễn nghệ thuật (đơn vị tính 1.000 người) năm 1965: 1.628, năm 1976: 3.570 lượt người được xem biểu diễn nghệ thuật; Số sách có trong thư viện (đơn vị tính: 1.000 bản), năm 1965: 2.555, năm 1976 là 6.240 bản…Bảy là: Quan tâm và tổ chức chỉ đạo các hoạt động nghiên cứu bảo tồn, phát huy giá trị các loại hình văn hóa dân tộc cổ truyền như Tuồng, Chèo, Cải lương, Dân ca…Đi đôi với việc tiếp nhận và thử nghiệm các bộ môn nghệ thuật mới như: Giao hưởng hợp xướng, Ô pê ra, Kịch múa (Bale), bảo tồn di sản văn hóa và xây dựng các viện nghiên cứu như: Viện Văn hóa, Viện Mỹ thuật mỹ nghệ, Viện Âm nhạc, Viện Sử học, Viện Văn học…Coi trọng sự nghiệp văn hóa của quần chúng và coi văn hóa quần chúng là nền tảng để nuôi dưỡng, phát triển văn hóa chuyên nghiệp…Tám là: Xây dựng con người mới, nếp sống mới ở thành thị, nông thôn, ở các cơ quan, xí nghiệp, trong đó có nếp sống thời chiến, phát động sâu rộng phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”, phong trào đọc sách “Sách đi tìm người”, “Sách người tốt việc tốt”…Động viên hàng ngàn văn nghệ sĩ đi thực tế ở các vùng trọng điểm bị không quân Mỹ đánh phá ở miền Bắc, đi chiến trường miền Nam để biểu diễn, phục vụ đồng bào, chiến sĩ để sáng tác… thời chống Mỹ cứu nước.Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám xem các tiêu bản cá ép khô tại Viện Hải Dương học, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa, tháng 3/1976.Quả thật di sản GS.Hoàng Minh Giám để lại cho ngành văn hóa là cực lớn. Nhà thơ Cù Huy Cận có 10 năm làm Thứ trưởng dưới thời Bộ trưởng Hoàng Minh Giám viết: “Là một trí thức uyên thâm, tâm huyết với tầm nhìn xa trông rộng, hơn 20 năm làm bộ trưởng văn hóa anh (Tức GS. Bộ trưởng Hoàng Minh Giám) là nhà lãnh đạo tài năng có nhiều cống hiến cho sự phát triển văn hóa của đất nước cả trong thời bình và thời chiến”. Hoặc như nguyên Bộ trưởng Văn hóa Thông tin Trần Hoàn viết: “Là Bộ trưởng đầu tiên của Bộ, người đặt nền cho hoạt động ngành Văn hóa – Thông tin sau này…là người mà giới Văn hóa cả nước thường gọi là anh cả, nhân hậu, giàu tình thương, uyên thâm trong xử thế và tiêu biểu cho tinh thần Đoàn kết, đại đoàn kết toàn ngành”Bà Êkatêria Fourtseva – Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết cũng viết rằng: “Tôi chưa từng gặp một vị Bộ trưởng Văn hóa nào tinh tế, lịch thiệp như ông Giám. Đó là một kiểu mẫu của một nền văn hóa. Ông rất uyên bác và với phong thái một con người có văn hóa cao”.Tôi muốn nhấn mạnh rằng: nếu phân tích một cách biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa các thành tựu nói trên và hiểu một cách thấu đáo kết quả hoạt động toàn diện của các thiết chế văn hóa, chẳng mấy khó để nhận ra: GS.Hoàng Minh Giám, các cộng sự của Ông đã bước đầu tạo dựng được nền tảng của một nền văn hóa mới – Văn hóa vì con người – con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể xứng đáng hưởng thụ những sáng tạo đó; Khơi dậy được sức mạnh tiềm ẩn, phi thường của từng con người, của cả cộng đồng để khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; Tạo nên mẫu hình con người mới cường tráng về thể lực, có trí tuệ về tâm hồn và không ngừng vươn tới đỉnh cao của văn hóa – chân, thiện, mỹ.Với những cống hiến như trên, GS.Hoàng Minh Giám xứng đáng được tôn vinh là danh nhân văn hóa thời đại Hồ Chí Minh.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn