GỬI LẠI TUỔI ĐÔI MƯƠI
GỬI LẠI TUỔI ĐÔI MƯƠI

Câu chuyễn đã dẫn chúng tôi đến làng Khánh Phước – Vĩnh Hải –Khánh Hòa để có thể chứng kiến những bằng bằng khen ,hình ảnh liệt sĩ Đặng Bồng 1 người lính có công cách mạng trong cuộc chiến đấu ở biên giới Tây Nam .Thế nhưng ông đã ra đi ở tuổi 23 – một độ tuổi rực rỡ tràng đầy năng lượng của đời người

Và những thông tin chúng tôi biết về ông thì được vợ ông đã cung cấp cho chúng tôi.
Trong căn nhà nhỏ của gia đình bạn tôi, có một góc luôn được giữ gìn rất trang nghiêm. Đó là nơi đặt bàn thờ và bức ảnh đen trắng của ông nội bạn ấy – liệt sĩ Đặng Bồng. Trong ảnh, ông là một chàng thanh niên còn rất trẻ, gương mặt hiền lành và đôi mắt sáng. Ông sinh năm 1960, và đã ngã xuống tại chiến trường biên giới Tây Nam vào ngày 18 tháng 2 năm 1983. Đối với thế hệ trẻ ngày nay, những mốc thời gian đó nghe thật xa xôi. Nhưng đối với gia đình bạn tôi, đó là cả một khoảng trời ký ức đầy thương nhớ, được bà nội kể lại một cách giản dị qua những câu chuyện đời thường.
Mối tình của ông bà bắt đầu từ những năm cuối thập niên 70. Ngày ấy, cuộc sống ở quê còn nghèo và thiếu thốn đủ đường. Thanh niên trong làng không có điều kiện để hẹn hò, vui chơi như bây giờ. Tình yêu của ông bà nảy nở từ những buổi cùng nhau đi làm đồng, những cái nhìn thẹn thùng bên giếng nước hay những câu chuyện vu vơ dưới bóng tre làng. Ông là người hiền lành, chịu thương chịu khó, còn bà là cô gái nết na, khéo léo. Hai người yêu nhau bằng một tình cảm chân phương, mộc mạc, không lời thề hẹn cao sang nhưng lại rất bền chặt.
Đầu thập niên 80, khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra ác liệt, nghe theo tiếng gọi nghĩa vụ của Tổ quốc, ông Đặng Bồng quyết định viết đơn nhập ngũ. Trước ngày ông lên đường ra mặt trận, gia đình hai bên đã tổ chức cho ông bà một đám cưới nhỏ. Gọi là đám cưới cho trang trọng, chứ thực ra thời chiến tranh bao cấp, mọi thứ đều đơn sơ đến mức thắt lòng. Đám cưới không có xe hoa, không có váy cưới lộng lẫy, chỉ có vài chén trà mộc, mấy chiếc kẹo chanh gói trong giấy kiếng và lời chúc phúc của họ hàng, lối xóm. Sau đám cưới, ông bà chỉ có vỏn vẹn vài ngày ngắn ngủi ở bên nhau. Ông phải khoác ba lô lên đường hành quân về phía biên giới, để lại người vợ trẻ ở lại quê nhà chăm lo ruộng vườn và bố mẹ già. Lúc ông đi, bà cũng vừa kịp mang trong mình giọt máu của ông.
Bước chân vào chiến trường biên giới Tây Nam, ông Đặng Bồng cùng đồng đội phải đối mặt với muôn vàn gian khổ. Đó là những ngày hành quân xuyên rừng dưới cái nắng cháy da của vùng biên thùy, là những đêm nằm chiến hào chịu muỗi đốt, là cái đói, cái khát và những trận sốt rét rừng hành hạ. Thế nhưng, trong những bức thư hiếm hoi gửi về quê nhà bằng tờ giấy pơ-lu-a cũ kỹ, viết bằng nét bút chì mờ nhạt, ông chẳng bao giờ than khổ. Trong thư, ông chỉ hỏi thăm xem ở nhà mùa màng ra sao, bố mẹ có khỏe không, và dặn bà phải ăn uống đầy đủ để sinh con vuông tròn. Sự quan tâm giản dị ấy chính là chỗ dựa tinh thần lớn nhất của bà ở hậu phương.
Một thời gian sau, đứa con trai duy nhất của ông bà chào đời trong sự thiếu vắng vòng tay cha. Vì điều kiện chiến tranh, liên lạc vô cùng khó khăn, ông nội chỉ biết tin mình đã làm bố qua những dòng thư tay gửi trễ cả tháng trời. Ông chưa một lần được nhìn thấy mặt con, chỉ biết tưởng tượng ra hình dáng của đứa trẻ qua những lời kể mộc mạc của vợ.
Năm tháng trôi qua, đứa con nhỏ lên 1, rồi 2 tuổi. Đứa trẻ bắt đầu tập những bước đi chập chững đầu tiên và bập bẹ những tiếng gọi "bố" đầu đời qua tấm ảnh cưới treo trên vách đất. Bà nội vừa làm mẹ, vừa làm cha, ngày ngày lam lũ ruộng đồng để nuôi con và ngóng trông ngày chiến thắng để ông trở về bế con. Bà luôn ao ước một ngày hòa bình, thấy bóng dáng ông bằng xương bằng thịt xuất hiện ở đầu ngõ, ôm lấy hai mẹ con vào lòng.
Thế nhưng, hạnh phúc của những gia đình thời chiến thật mong manh. Ngày 18 tháng 2 năm 1983, một buổi chiều định mệnh, tờ giấy báo tử được gửi về làng. Ông Đặng Bồng đã anh dũng hy sinh trong một trận chiến khốc liệt tại biên giới Tây Nam. Ông ngã xuống khi tuổi đời mới vừa tròn 23 tuổi – cái tuổi còn quá trẻ với bao dự định tương lai còn dang dở. Ông ra đi mà chưa kịp một lần được trực tiếp bế đứa con trai của mình, chưa kịp nghe con gọi một tiếng "bố" trọn vẹn ở ngoài đời.
Tin dữ ập đến như một gáo nước lạnh dội xuống người vợ trẻ. Nỗi đau mất chồng quá lớn khiến bà suy sụp hoàn toàn. Nhưng nhìn đứa con nhỏ mới hơn một tuổi đang ngơ ngác nhìn mẹ khóc, bà hiểu rằng mình không được phép gục ngã. Bà nén nỗi đau thấu trời vào lòng, nuốt nước mắt để tiếp tục sống. Trong những năm tháng bao cấp nghèo khó sau đó, một mình góa phụ trẻ vừa nuôi con, vừa phụng dưỡng bố mẹ chồng, chịu đựng biết bao tủi nhục và vất vả của cuộc đời. Sức mạnh duy nhất giúp bà vượt qua tất cả chính là đứa con trai – giọt máu và là kỷ vật duy nhất mà ông để lại trên cuộc đời này. Bà ở vậy thờ chồng, nuôi con khôn lớn, giữ trọn vẹn lòng thủy chung với người lính đã ngã xuống.
Thấm thoát đã hơn 40 năm trôi qua kể từ ngày ông nội hy sinh. Đứa con nhỏ 1 - 2 tuổi ngày ấy bây giờ đã lớn khôn, trưởng thành, trở thành một người đàn ông trụ cột vững vàng, là chỗ dựa cho cả gia đình và là bố của bạn tôi. Dù lớn lên mà không biết mặt cha, nhưng người con ấy luôn sống một cuộc đời ngay thẳng, trách nhiệm để xứng đáng với sự hy sinh của người cha liệt sĩ.
Còn bà nội bây giờ cũng đã bước vào tuổi xế chiều. Mái tóc xanh ngày xưa nay đã bạc phơ, những nếp nhăn thời gian và gian khó đã hằn sâu trên khuôn mặt da mồi tóc sương. Đôi mắt bà đã mờ đi nhiều, nhưng mỗi khi có ai hỏi về ông, bà vẫn nhớ như in từng chi tiết nhỏ của những ngày xưa cũ. Bà vẫn giữ gìn cẩn thận chiếc ba lô sờn góc, lá thư cũ của ông như những báu vật vô giá của cuộc đời mình.
Câu chuyện về ông Đặng Bồng không có những tình tiết ly kỳ, hoa mỹ như trong phim ảnh. Đó chỉ là câu chuyện của một người lính bình thường như bao người lính khác đã ngã xuống vì đất nước. Nhưng đối với gia đình, sự hy sinh của ông và sự kiên cường của bà luôn là điều khiến con cháu tự hào, biết ơn và trân trọng mỗi khi nhắc lại.
Trần Ngọc Bảo Yên – Đoàn TN trường THPT Phan Chu Trinh – Vĩnh Hải



