Bài viết

Gửi người em gái hậu phương

Ba anh em Trần Đình Điến, Trần Đình Tiến, Trần Thị Thu Hương sinh ra và lớn lên tại xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Năm 1950, người cha kính yêu của họ - ông Trần Đình Phách, công an huyện Vũ Thư – khi đang làm nhiệm vụ thì bị thực dân Pháp bắt. Sau khi tra tấn, do không khai thác được gì, chúng đem ông ra xử bắn...

Hà Tĩnh12/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ba anh em Trần Đình Điến, Trần Đình Tiến, Trần Thị Thu Hương sinh ra và lớn lên tại xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Năm 1950, người cha kính yêu của họ - ông Trần Đình Phách, công an huyện Vũ Thư – khi đang làm nhiệm vụ thì bị thực dân Pháp bắt. Sau khi tra tấn, do không khai thác được gì, chúng đem ông ra xử bắn. Chồng qua đời, bà Lê Thị Hoãn đã một mình tần tảo sớm hôm nuôi dạy các con. Nhưng không may, đúng sáng mồng 8 Tết năm 1954, trong một lần đi chợ, bà bị bom đạn của giặc cướp đi sinh mạng. Ba đứa trẻ bơ vơ, mồ côi nương tựa vào nhau trong sự đùm bọc, nuôi nấng của các cậu, mợ trong gia đình. Khi họ trưởng thành, cũng là lúc đất nước bước vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ác liệt, Trần Đình Điến, Trần Đình Tiến nhập ngũ và lên đường vào Nam chiến đấu.

Người anh cả Trần Đình Điến, chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 9, Sư đoàn 711 công tác và chiến đấu trên chiến trường luôn kiên tâm vững dạ dù phải đón nhận muôn vàn khó khăn mất mát, nhất là khi nhận được tin em trai Trần Đình Tiến hy sinh năm 1967. Anh đã nén đau thương, tự động viên mình tiếp tục phấn đấu, công tác. Trong lá thư gửi về cho vợ chồng người cậu ở quê, Trần Đình Điến viết:

“Cậu Tuyền kính mến!

Cháu đã sống và chiến đấu trên mảnh đất thành đồng. Cháu trưởng thành, lớn lên nhiều cả về tấm vóc cũng như về lý luận. Giặc Mỹ càng thua to, càng tăng cường bắn phá miền Bắc, nhưng nhân dân hai miền quyết đánh thắng giặc Mỹ. Hằng ngày, hằng giờ cháu theo dõi từng bước đi của miền Bắc, từng tin chiến thắng của quê nhà…. Thưa cậu mợ, đúng như lời Hồ Chủ tịch đã nói: có độc lập tự do thì có tất cả, vì vậy cháu đã xác định quyết tâm của mình dù có phải hy sinh đến tính mạng cháu cũng sẵn sàng. “Thề cùng giặc Mỹ: có tao không có mày”, cháu quyết trả thù cho ba mẹ cháu, cho đồng bào cả nước”. (Thư ngày 15-3-1968)

“Ở đời người chiến binh việc sống chết là thường. Do đó con người Cộng sản không sợ chết, nếu chết cho Đảng, cho dân, cho cách mạng thì sẵn sàng. Cháu cũng xác định rồi mợ ạ. Nếu có phải vĩnh biệt thế giới này cháu không ân hận gì, chỉ tiếc rằng chưa giết hết được giặc Mỹ…” (Thư ngày 15-5-1970)

Trong một lá thư khác gửi cho người chị họ, Trần Đình Điến kể:

“Cách đây một tháng em có được thư của cậu Tuyền viết cuối năm 1970, sau đó vài ngày em lại nhận được thư của Minh Nguyệt. Biết được tình hình gia đình, buồn vui lẫn lộn khó mà tả được. Nhưng phần buồn nhiều hơn chị ạ. Chú Thiếp đã mất, Tiến đã hy sinh. Nhưng biết làm sao được. Buồn chán rồi lại vui, sau đó lại tự động viên an ủi mình trong công tác… Chị Lai ơi, còn Hương ở ngoài đó nhờ chị và anh giúp đỡ động viên dạy dỗ hộ em với chị nhé. Em sợ nó lêu lổng không tu dưỡng rèn luyện, ít gần gũi anh chị sẽ hư. Em bây giờ chỉ trông ngóng mình Hương chị ạ. Đó là nguồn động viên của em đấy…” (Thư ngày 15-8-1971).

Những lá thư gửi từ chiến trường và hồi âm nhận được từ hậu phương với người lính chiến thật quý giá. “Giữa chiến trường khét lẹt mùi bom đạn, nhận được thư nhà thú hơn cả liều thuốc bổ sau những ngày chiến đấu mệt nhọc”. Và điều quan tâm lớn nhất đối với Trần Đình Điến bây giờ chính là cô em gái Trần Thị Thu Hương. Trong những lá thư sau, không bao giờ anh quên nhắc và lo cho cô em gái.

Trang thư của liệt sĩ Trần Đình Điến

“Ngày 12-7-1970

Em Hương yêu quý!

Hôm nay anh lại viết thư cho em. Ngày 2-7 vừa qua anh đã viết thư cho Hương nhưng không biết em có nhận được không. Anh sợ thất lạc nên hôm nay đơn vị có ba đồng chí ra ngoài đó công tác anh tranh thủ viết vài chữ cho Hương. Anh không viết dài vì ba anh ở đơn vị đang ngồi đợi anh viết xong rồi đi ngay. Đầu tiên chúc em khỏe-tốt-đẹp-giỏi. Trong tháng 6-1970 anh có nhận được thư của Hương và cậu Tân. Qua thư của em anh thấy em tiến bộ anh rất vui, phấn khởi. Và anh không đồng ý với Hương vào trong này, ba anh em thì hai anh đã vào trong này, còn một mình Hương là cô em gái út của anh. Anh thương Hương quá nên anh không cho Hương vào chỗ gian khổ, hy sinh nhiều…”.

“Mợ ạ, thanh niên trai tráng như cháu nhiệm vụ không phải ở hậu phương. Lúc này hơn lúc nào hết tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, tất cả tập trung vào để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Do đó hậu phương với tiền tuyến là một. Cậu mợ giúp đỡ cháu, các em nâng cho cháu bay khắp miền Nam lập nhiều chiến công chói lọi. Về phần Hương, anh muốn nói với em nhiều, thật nhiều nhưng viết trên trang giấy mỏng này không thể nói hết ý anh... Anh tuy xa em nhưng anh lo cho em nhiều mà không biết làm sao. Khi nào hết giặc anh mới gặp em được. Em là gái nên giữ mình nhé đừng đua đòi thiên hạ. Em phải thương hai anh, một anh đã ngã xuống, một anh còn chịu đựng gian khổ hy sinh để đổi lấy tự do cho em được học tập. Em ở ngoài đó cố gắng học tập, tự tu dưỡng mình trở thành người đoàn viên rồi phấn đấu trở thành Đảng viên em nhé…”. (Thư ngày 25-11-1971)

“Hương thương nhất. Anh Tiến của em không còn nữa, anh chỉ còn lại em là người độc nhất, anh rất thương em, có cái gì anh cũng muốn cho em và cho em tất cả. Và điều cuối cùng là anh mong em sẽ trở thành người chiến sĩ cộng sản, suốt đời hy sinh cho Chủ nghĩa xã hội. Em thấy gia đình nhà ta từ nội qua ngoại toàn là gia đình cách mạng, nhất là cha và anh Tiến đã cống hiến suốt đời cho thế hệ mai sau. Em hãy cố gắng để đi tiếp con đường cha và hai anh đã và đang đi… Em yêu nhất! Em đã lớn, việc xây dựng hạnh phúc gia đình anh không cấm, nhưng phải cho cẩn thận và chín chắn. Nhưng em ạ, tốt nhất hãy tập trung học tập phấn đấu. Em còn trẻ lắm, tuổi đời không là bao. Nếu yêu đương sớm anh thấy rất ảnh hưởng đến sự phấn đấu của em”. (Thư ngày 24-12-1971)

“Hương em yêu quý nhất. Em có thương anh không, nếu thương anh thì phải học tập tu dưỡng cho thật tốt để trở thành người đồng chí của anh. Cha mẹ mất sớm, anh Tiến đã hy sinh, anh đang chiến đấu ở chiến trường, chỉ còn một mình em, anh thương em nhiều lắm. Còn giặc nên anh không về thăm em được, khi nào hết giặc anh sẽ về, em cố học tập nhé. Sống ở nơi tập trung điều hay cũng lắm, điều xấu cũng nhiều, anh không cho phép em học điều xấu. Khi làm điều xấu phải nhớ tới anh đang lăn lộn ngoài chiến trường. Bao nhiêu đồng chí, đồng bào hy sinh mới có được mảnh đất cho em được tự do học tập đấy …” (Thư ngày 3-2-1972)

“Quảng Ngãi, 10-6-1972

Em Thu Hương thương lắm!

Hôm nay ngồi trên đất Quảng Ngãi nhớ tới em anh vội biên vài chữ về thăm.

Hương em! Gần một năm nay không nhận được thư của cậu mợ và các em ngoài đấy anh không biết gia đình nội ngoại nhà ta ra sao. Nhất là vừa rồi địch lại bắn phá quê nhà. Cậu mợ và các em có sơ tán không, gia đình nhà ta có việc gì không?

Em Hương thương nhớ lắm! Lâu nay em có khỏe không, em học tập ra sao rồi. Anh lâu nay vẫn khỏe, công tác và chiến đấu có nhiều gian khổ. Muốn có ấm no hạnh phúc mai sau thì phải có người hy sinh xương máu, cho nên em ở ngoài Bắc ra sức mà học tập, công tác nhé. Con người nào cũng phải rèn luyện thì mới trở thành người vừa “hồng”, vừa “chuyên” phải không em.”

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, nỗi niềm người lính trải dài trên những cánh thư. Chẳng mảy may toan tính cho mình, Trần Đình Điến chỉ lo lắng cho những người thân yêu trong gia đình và mong ngày chiến thắng được trở về tính chuyện tương lai cho cô em duy nhất. Nhưng Trần Đình Điến không thể thực hiện được mong ước ấy, anh đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất Quảng Nam ngày 9-2-1973…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn