gười Con Xứ Huế Và Khúc Tráng Ca Giữ Thành
rong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, mảnh đất cố đô Thừa Thiên Huế không chỉ là nơi hội tụ của danh lam thắng cảnh, mà còn là quê hương của biết bao anh hùng kiệt xuất. Giữa những tên tuổi rạng danh sử sách, danh tướng Nguyễn Tri Phương nổi lên như một biểu tượng vĩ đại của tinh thần yêu nước, lòng kiên trung và khí tiết bất khuất trước kẻ thù.
Nguyễn Tri Phương sinh năm 1800 trong một gia đình làm ruộng và nghề mộc tại làng Đường Long (nay thuộc xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Không xuất thân từ dòng dõi quyền quý, ông bước vào chốn quan trường hoàn toàn bằng tài năng, sự chính trực và ý chí tự học phi thường. Qua ba triều đại vua nhà Nguyễn là Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, ông luôn được tin tưởng giao phó những trọng trách lớn nhờ lối sống liêm khiết, thương dân và tài thao lược văn võ song toàn.
Trận chiến đáng nhớ nhất và cũng là khúc tráng ca cuối cùng trong cuộc đời ông diễn ra vào năm 1873, khi thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Hà Nội lần thứ nhất. Lúc bấy giờ, dù đã ở cái tuổi "thất thập cổ lai hy" – cái tuổi lẽ ra phải được an hưởng tuổi già, Nguyễn Tri Phương vẫn khí phách hiên ngang, trực tiếp đứng ra chỉ huy quân dân giữ thành.
Sáng ngày 20 tháng 11 năm 1873, tiếng súng đại bác của quân Pháp gầm vang, khói lửa ngập tràn cửa Đông thành Hà Nội. Giữa làn mưa bom bão đạn, người ta vẫn thấy bóng dáng vị tướng già tóc bạc trắng, ánh mắt quật cường, liên tục đốc thúc quân sĩ chiến đấu. Tuy nhiên, do sự chênh lệch quá lớn về vũ khí và hỏa lực, thành Hà Nội dần rơi vào thế nguy kịch. Trong lúc trận chiến diễn ra ác liệt nhất, Nguyễn Tri Phương bị trúng đạn và bị thương rất nặng ở bụng. Người con trai của ông là phò mã Nguyễn Lâm cũng anh dũng hy sinh ngay tại trận địa.
Thành mất, vị tiết chế bấy giờ bị quân Pháp bắt giữ. Biết ông là một danh tướng có uy tín lớn đối với nhân dân, thực dân Pháp đã dùng mọi cách từ dụ dỗ, mua chuộc đến cứu chữa vết thương nhằm khuất phục ông. Chúng đưa những bác sĩ giỏi nhất đến để băng bó, nhưng ông thẳng thừng từ chối. Với ánh mắt căm hờn và giọng nói đanh thép, ông khảng khái tuyên bố: "Bây giờ nếu ta chỉ lay lắt sống thêm một ngày, là đem cái sống quỳ mà thờ tụng kẻ thù hay sao? Ta muốn chết theo thành, há lại chịu sống làm nhục cho nước!".
Để giữ trọn khí tiết của một bậc trượng phu, Nguyễn Tri Phương đã tuyệt thực suốt gần một tháng trời. Ngày 20 tháng 12 năm 1873, ông trút hơi thở cuối cùng, thanh thản đi vào cõi vĩnh hằng, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào và nỗi nể sợ trong lòng chính những kẻ thù bên kia chiến tuyến.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, câu chuyện về cái chết oanh liệt của Nguyễn Tri Phương vẫn luôn là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước. Người con của mảnh đất phong sương Phong Điền, Huế đã sống một cuộc đời trọn vẹn với non sông và chết đi một cách kiêu hùng nhất. Tên của ông ngày nay được trân trọng đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp cả nước, như một lời nhắc nhở thế hệ mai sau về một tấm lòng son sắt, trọn đời hy sinh vì độc lập của Tổ quốc.


