GƯƠM BÁU MÀI TRĂNG VÀ BI KỊCH TRUNG HIẾU CỦA TƯỚNG QUÂN ĐẶNG DUNG
Khắc họa cuộc xung đột nội tâm bi tráng của danh tướng Đặng Dung thời Hậu Trần (1407 – 1414) khi phải nén nỗi đau cha bị vua Giản Định Đế giết oan để đặt đại cuộc kháng chiến chống quân Minh lên trên mối thù nhà. Bài viết tái hiện trận tập kích đêm quả cảm nhằm thẳng vào thuyền chiến của chủ tướng Trương Phụ trên sông Thái Bình và khí phách bất khuất của người anh hùng qua tuyệt tác Cảm hoài trước lúc trầm mình tuẫn tiết.
Nhưng bi kịch lớn nhất của lịch sử không phải lúc nào cũng đến từ mũi giáo của kẻ thù, mà đôi khi lại khởi phát từ sự nghi kỵ và đố kỵ ngay trong hàng ngũ những người cùng chung chiến hào. Năm 1408, Quốc công Đặng Tất – thân phụ của Đặng Dung – đã chỉ huy quân Hậu Trần lập nên đại thắng Bô Cô lừng lẫy trên sông Đáy (Nam Định), chém đầu Lại bộ Thượng thư nhà Minh là Lưu Tuấn cùng Đô đốc Lữ Nghị, khiến quân Minh trong thành Đông Quan rúng động. Thế nhưng, uy danh quá lớn của vị lão tướng lại trở thành cái gai trong mắt những kẻ gièm pha bên cạnh vua Giản Định Đế (Trần Ngỗi). Nghe lời xàm tấu của bọn nội nhân Nguyễn Quỹ và Nguyễn Mộng Trang rằng Đặng Tất chuyên quyền lấn át, năm 1409, Giản Định Đế đã bày mưu triệu Đặng Tất vào thuyền ngự rồi sai người bóp cổ giết chết vị trụ cột duy nhất của cuộc kháng chiến.
Cái chết oan khuất của người cha giữa lúc vận nước ngàn cân treo sợi tóc đã đẩy người con trai trưởng Đặng Dung vào một cuộc xung đột nội tâm dữ dội bậc nhất trong lịch sử trung đại Việt Nam. Theo lễ giáo phong kiến phương Đông, 'phụ thù bất cộng đái thiên' – mối thù giết cha không đội trời chung. Trong tay Đặng Dung lúc ấy có binh quyền trấn giữ đất Thuận Hóa, có lòng phục tùng của tướng sĩ và hào kiệt bốn phương. Nếu ông tuốt gươm quay về hỏi tội Giản Định Đế, cuộc kháng chiến chống Minh chắc chắn sẽ tan vỡ trong biển máu huynh đệ tương tàn; còn nếu ông buông xuôi hoặc hàng giặc để mượn tay người Minh trả thù nhà, ông sẽ mãi mãi mang tội phản quốc với tổ tiên. Đứng trước lằn ranh nghiệt ngã giữa chữ Hiếu riêng tư và chữ Trung với non sông, Đặng Dung đã chọn một con đường vượt lên trên bi kịch cá nhân: ông nuốt nước mắt vào lòng, không một lời oán thán hay trả thù đẫm máu đối với dòng dõi nhà Trần, mà lặng lẽ rời bỏ Giản Định Đế để cùng Nguyễn Cảnh Dị rước hoàng thân Trần Quý Khoáng lên ngôi tại Chi La (Hà Tĩnh), tức vua Trùng Quang Đế, tiếp tục giương cao ngọn cờ cứu nước.
Suốt năm năm ròng rã (1409 – 1414), Đặng Dung trở thành điểm tựa quân sự cuối cùng của triều đình Trùng Quang Đế trước sức ép nghẹt thở từ đại quân của Trương Phụ. Đó là một cuộc chiến không cân sức giữa một bên là đế chế Đại Minh đang ở thời kỳ cực thịnh dưới triều Vĩnh Lạc, với hàng chục vạn quân tinh nhuệ và hỏa khí tối tân, và một bên là đạo quân nghĩa dũng thiếu lương thảo, phải liên tục rút sâu vào vùng rừng núi hiểm trở Thanh – Nghệ – Thuận Hóa. Tuyệt đỉnh của bản lĩnh Đặng Dung được khắc họa trong trận tập kích đêm tháng 9 năm Quý Tỵ (1413) tại cửa sông Thái Bình (Quảng Trị). Khi hai bên cầm cự bên bờ sông, Đặng Dung đã đích thân chỉ huy đội cảm tử cưỡi voi và chèo thuyền nhẹ lợi dụng đêm tối đánh thốc vào doanh trại thủy quân nhà Minh. Ông nhảy thẳng lên thuyền chiến của chủ tướng Trương Phụ, tay cầm gươm quyết bắt sống tên đầu sỏ giặc. Chỉ vì trong đêm tối không nhận rõ mặt Trương Phụ, để viên tướng giặc kịp nhảy xuống chiếc thuyền con trốn thoát, Đặng Dung mới lỡ mất cơ hội xoay chuyển cục diện lịch sử trong gang tấc.
Thất bại ở sông Thái Bình đã vắt kiệt những nguồn lực cuối cùng của nghĩa quân Hậu Trần. Đầu năm 1414, khi quân Minh siết chặt vòng vây tại miền núi Quảng Bình – Thuận Hóa, Đặng Dung cùng vua Trùng Quang Đế và tướng Nguyễn Cảnh Dị lần lượt sa vào tay giặc. Giữa chốn lao tù và trước khi bước lên con đường giải về Yên Kinh, người tướng già tóc đã bạc trắng mới gửi trọn nỗi niềm uất hận ngàn thu vào bài thơ 'Cảm hoài' bất hủ: 'Thế sự du du nại lão hà / Vô cùng thiên địa nhập hàm ca / Thời lai đồ điếu thành công dị / Sự khứ anh hùng ẩm hận đa... Quốc thù vị báo đầu tiên bạch / Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma'. Hình ảnh người anh hùng bao phen đem thanh kiếm Long Tuyền mài dưới ánh trăng lạnh lẽo, tóc bạc trước khi thù nước được đền, không phải là tiếng thở dài tuyệt vọng của kẻ chiến bại, mà là tượng đài bi tráng về nhân cách người Việt: dẫu thời thế ngoảnh mặt, dẫu chịu nỗi oan khuất tày trời từ chính phe mình, vẫn giữ trọn tấm lòng tận hiến cho non sông cho đến giây phút trầm mình tuẫn tiết trên đường áp giải về phương Bắc.



