Hà Huy Tập (1906–1941) là nhà cách mạng kiên cường, nhà lý luận xuất sắc và là Tổng Bí thư thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) từ tháng 7/1936 đến tháng 3/1938
hân thế và thời niên thiếu Sinh ngày: 24 tháng 4 năm 1906 tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay thuộc xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình: Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Thân phụ là cụ Hà Huy Tường (đỗ cử nhân, dạy học và bốc thuốc), thân mẫu là bà Nguyễn Thị Lộc. Học tập: Thuở nhỏ học chữ Hán và tiểu học tại Hà Tĩnh. Sau đó, ông đỗ thủ khoa và học tại Trường Quốc học Huế, tốt nghiệp bằng Thành chung (Diplôme) hạng ưu năm 1923.
Hà Huy Tập (1906–1941) là nhà cách mạng kiên cường, nhà lý luận xuất sắc và là Tổng Bí thư thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) từ tháng 7/1936 đến tháng 3/1938.
Thân thế và thời niên thiếu
Sinh ngày: 24 tháng 4 năm 1906 tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay thuộc xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Gia đình: Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước. Thân phụ là cụ Hà Huy Tường (đỗ cử nhân, dạy học và bốc thuốc), thân mẫu là bà Nguyễn Thị Lộc.
Học tập: Thuở nhỏ học chữ Hán và tiểu học tại Hà Tĩnh. Sau đó, ông đỗ thủ khoa và học tại Trường Quốc học Huế, tốt nghiệp bằng Thành chung (Diplôme) hạng ưu năm 1923.Quá trình hoạt động cách mạng
1923–1926: Làm giáo viên trường Tiểu học Pháp-Việt ở Nha Trang; tích cực dạy học cho con em lao động nghèo và sớm giác ngộ cách mạng.
1926: Tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, tham gia gây dựng cơ sở cách mạng ở Trung Kỳ và Nam Kỳ.
12/1928–1933: Sang Trung Quốc rồi đi học tại Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (Mátxcơva, Liên Xô). Tại đây, ông có bí danh là Xinhitrơkin và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga.
1933–1936: Về nước và tham gia Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, đóng vai trò quan trọng trong việc khôi phục và củng cố hệ thống tổ chức Đảng.
7/1936–3/1938: Giữ chức vụ Tổng Bí thư của Đảng, lãnh đạo phong trào cách mạng chuyển hướng sang hình thức công khai, bán công khai và lập mặt trận dân chủ rộng rãi trong giai đoạn 1936–1939.
3/1938: Tại Hội nghị Trung ương ở Bà Điểm (Gia Định), ông thôi giữ chức Tổng Bí thư nhưng vẫn tham gia Thường vụ Trung ương Đảng.
Hy sinh
5/1938: Bị thực dân Pháp bắt lần đầu tại Sài Gòn, sau đó bị giam cầm và quản thúc.
3/1940: Bị Pháp bắt lại và đưa giam tại Khám Lớn Sài Gòn.
25/3/1941: Bị Tòa án quân sự Sài Gòn kết án tử hình với cáo buộc "chịu trách nhiệm tinh thần" về cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ.
28/8/1941: Bị thực dân Pháp xử bắn tại ngã ba Giồng, Hóc Môn, Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh)



