Khác

Hà Huy Tập – Nhà lý luận kiệt xuất, người cộng sản kiên trung trước pháp trường

Đồng chí Hà Huy Tập là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc của Đảng, từng giữ cương vị Tổng Bí thư khi tuổi đời còn rất trẻ. Với trí tuệ, bản lĩnh và lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng, đồng chí đã góp phần quan trọng trong việc khôi phục tổ chức Đảng và lãnh đạo phong trào đấu tranh dân chủ 1936–1939. Dù bị bắt, tra tấn và kết án tử hình, Hà Huy Tập vẫn giữ vững khí tiết, hiên ngang trước kẻ thù và anh dũng hy sinh năm 1941. Cuộc đời đồng chí là biểu tượng sáng ngời của lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước và tinh thần bất khuất trước mọi thử thách.

Hà Tĩnh26/08/2026Đoàn phường Bình Đông (Phường Bình Đông)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Hà Huy Tập sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo hiếu học tại mảnh đất Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Lớn lên trên vùng quê nghèo khó nhưng có bề dày lịch sử, kiên cường chống ngoại xâm, dòng máu yêu nước đã thấm sâu vào tâm thức ông ngay từ thuở thiếu thời. Với trí thông minh vượt trội, năm 1923, ông tốt nghiệp trường Quốc học Huế và trở thành giáo viên tại Nha Trang, sau đó là tại Vinh (Nghệ An).

Giống như người đồng hương Trần Phú, người thầy giáo trẻ Hà Huy Tập không bằng lòng với cuộc sống an phận. Hằng ngày chứng kiến cảnh áp bức bất công của chế độ thực dân, ông đã dùng bục giảng để khơi dậy lòng yêu nước trong học sinh và nhân dân. Ông tích cực tham gia vào Hội Phục Việt, tổ chức các phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh. Sự dấn thân của ông sớm lọt vào tầm ngắm của thực dân Pháp, khiến ông bị sa thải khỏi ngành giáo dục vào năm 1926. Kể từ đây, cuộc đời ông chính thức chuyển sang một trang mới - trang sử của một nhà cách mạng chuyên nghiệp.

Cuối năm 1928, Hà Huy Tập sang Trung Quốc hoạt động và được tổ chức cử đi học tại Trường Đại học Phương Đông (Moskva, Liên Xô). Đây là giai đoạn bước ngoặt, giúp ông vũ trang hệ thống lý luận Mác - Lênin khoa học và tư duy chính trị sắc bén.

Giữa những năm 1930, sau khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp đẫm máu, hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa phương gần như tan rã, các lãnh đạo cốt cán của Đảng bị bắt và hy sinh. Đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc ấy, mùa hè năm 1932, Hà Huy Tập bí mật trở về Trung Quốc, phối hợp cùng đồng chí Lê Hồng Phong thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Với nghị lực phi thường và tư duy tổ chức sắc sảo, ông trực tiếp soạn thảo nhiều văn kiện, viết sách báo để định hướng tư tưởng, bền bỉ khôi phục lại mối liên lạc giữa các cơ sở Đảng trong nước.

Tháng 3 năm 1935, ông tham gia chỉ đạo Đại hội lần thứ I của Đảng tại Ma Cao. Đến tháng 7 năm 1936, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Hà Huy Tập được bầu làm Tổng Bí thư. Nhận trọng trách khi mới 30 tuổi, ông đã khéo léo chèo lái, đưa Đảng bước vào một cao trào đấu tranh mới mang tính bước ngoặt: Phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 - 1939). Dưới sự chỉ đạo của ông, Đảng ta đã biết tận dụng các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp, đưa hàng triệu quần chúng nhân dân xuống đường biểu tình đòi dân sinh, dân chủ, tạo nên một cuộc tổng diễn tập chính trị sâu rộng trước thềm Cách mạng Tháng Tám.

Sự lớn mạnh của phong trào cách mạng khiến kẻ thù run sợ. Ngày 01 tháng 5 năm 1938, do có sự phản bội, Tổng Bí thư Hà Huy Tập bị mật thám Pháp bắt giữ tại Sài Gòn khi đang trực tiếp chỉ đạo phong trào quần chúng. Kẻ thù hí hửng dùng mọi thủ đoạn ép cung, tra tấn vô cùng tàn bạo, dã man hòng tìm ra tung tích cơ quan Trung ương Đảng. Thế nhưng, chúng hoàn toàn bất lực trước ý chí sắt đá của ông. Do không đủ bằng chứng khép tội chết, chúng kết án ông 6 tháng tù và trục xuất khỏi Nam Kỳ, quản thúc tại quê nhà Hà Tĩnh.

Tuy nhiên, "con hùm xám" cách mạng không bao giờ chịu nằm yên. Chỉ một thời gian ngắn sau, ông tìm cách liên lạc lại với tổ chức. Đến tháng 3 năm 1940, thực dân Pháp lại điên cuồng bắt giam ông lần thứ hai. Sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940) nổ ra và thất bại, thực dân Pháp điên cuồng mở các phiên tòa quân sự để xử bắn những nhà lãnh đạo cách mạng. Dù đang bị giam cầm trước khi khởi nghĩa diễn ra, kẻ thù vẫn vu cáo và kết án tử hình đồng chí Hà Huy Tập với cáo buộc "chịu trách nhiệm tinh thần" và "lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản".

Ngày 28 tháng 08 năm 1941, tại ngã tư Giếng Nước (Hóc Môn, Gia Định), thực dân Pháp đã hèn hạ dựng pháp trường bắn để sát hại đồng chí Hà Huy Tập cùng các đồng chí trung kiên khác như Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai...

Trước họng súng đen ngòm của quân thù, người Tổng Bí thư 35 tuổi không một chút run sợ. Ông từ chối bịt mắt để nhìn thẳng vào kẻ thù, nhìn thẳng vào mảnh đất quê hương thân yêu. Trước đó, trong lá thư cuối cùng gửi về cho gia đình, ông đã viết những lời thanh thản, hiên ngang đến lay động lòng người:

"Nếu tôi phải chết... em và các bạn chớ khóc lóc tôi làm gì, trái lại, nên lấy danh dự tôi làm niềm kiêu hãnh..."

Và tại tòa án thực dân, ông đã để lại lời tuyên ngôn đanh thép, bất tử:

"Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng!"

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Hà Huy Tập – Nhà lý luận kiệt xuất, người cộng sản kiên trung trước pháp trường | Câu chuyện thời hoa lửa