Bài viết

Hà Huy Tập – Nhà lý luận xuất sắc, vị Tổng Bí thư kiên trung đến hơi thở cuối cùng

Hà Tĩnh16/09/2026Đoàn xã Hưng Vũ (Xã Hưng Vũ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử đấu tranh gian khổ của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ tiền khởi nghĩa, Hà Huy Tập là một trong những nhà lãnh đạo kiêm nhà lý luận, phê bình chính trị kiệt xuất nhất. Ông là vị Tổng Bí thư thứ ba của Đảng, người đã có công lao to lớn trong việc bảo vệ, củng cố hệ thống tổ chức và tư tưởng của Đảng giữa giai đoạn bị thực dân Pháp khủng bố trắng khốc liệt nhất. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng ngời về học vấn uyên bác, tư duy chiến lược sắc bén và khí phách hiên ngang, thà hy sinh tính mạng chứ nhất quyết không phản bội đồng bào.

Hà Huy Tập sinh năm 1906 trong một gia đình nhà nho nghèo giàu lòng yêu nước tại xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh – mảnh đất miền Trung giàu truyền thống cách mạng. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là người thông minh, học giỏi, sớm bộc lộ cá tính độc lập và tư tưởng tiến bộ. Sau khi tốt nghiệp trường Quốc học Huế năm 1923, ông được bổ nhiệm làm giáo viên tại Nha Trang rồi Vinh (Nghệ An). Giống như người đồng hương Trần Phú, người thầy giáo trẻ Hà Huy Tập không thể cam chịu đứng nhìn đất nước bị nô dịch, học trò và đồng bào sống trong cảnh lầm than, đói rách. Ông đã dấn thân vào con đường cách mạng bằng việc tham gia tổ chức yêu nước Hội Phục Việt.

Năm 1926, do tham gia tổ chức các phong trào bãi khóa của học sinh và đấu tranh chống thực dân, ông bị sa thải khỏi ngành giáo dục. Không nản chí, Hà Huy Tập bí mật rời quê hương sang Quảng Châu (Trung Quốc) rồi sang Liên Xô học tập tại trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Moscow. Với năng khiếu ngoại ngữ xuất sắc, tư duy phân tích nhạy bén, ông nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Marx-Lenin và trở thành một trong những nhà lý luận cốt cán của phong trào cộng sản Đông Dương. Ông đã viết hàng chục tác phẩm, bài báo bằng tiếng Pháp và tiếng Nga để tuyên truyền, khẳng định con đường cách mạng vô sản của Việt Nam.

Năm 1934, giữa lúc hệ thống tổ chức Đảng trong nước bị thực dân Pháp phá hoại nặng nề sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Hà Huy Tập cùng với Lê Hồng Phong thành lập Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng tại Ma Cao (Trung Quốc) nhằm khôi phục lại phong trào. Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng năm 1935, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Đến tháng 7 năm 1936, Hà Huy Tập chính thức được trao trọng trách làm Tổng Bí thư của Đảng.

Trên cương vị lãnh đạo tối cao, Hà Huy Tập đã thể hiện một tầm nhìn chiến lược xuất sắc. Nhận định tình hình thế giới có nhiều thay đổi khi chủ nghĩa phát xít đang đe dọa hòa bình, ông đã cùng Trung ương Đảng linh hoạt chuyển hướng chiến lược: tạm thời gác khẩu hiệu "đánh đổ đế quốc" sang đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, tự do, cơm áo, hòa bình. Sự chuyển hướng tài tình này đã mở ra cao trào Dân chủ 1936 - 1939 rầm rộ, đưa Đảng từ hoạt động bí mật bước ra lãnh đạo các cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp, tập hợp hàng triệu quần chúng nhân dân tham gia và chuẩn bị một lực lượng chính trị khổng lồ cho cuộc Tổng khởi nghĩa sau này.

Sự lớn mạnh của phong trào cách mạng khiến thực dân Pháp hoảng sợ điên cuồng. Chúng tung mạng lưới mật thám bủa vây khắp nơi để lùng sục vị Tổng Bí thư. Ngày 1 tháng 5 năm 1938, do có kẻ phản bội chỉ điểm, Hà Huy Tập đã bị mật thám Pháp bắt giữ tại Sài Gòn khi đang đi kiểm tra phong trào công nhân.

Biết ông là Tổng Bí thư, kẻ thù đã trút xuống cơ thể ông những trận đòn tra tấn tàn khốc nhất hòng ép ông khai ra các cơ sở bí mật và danh sách Ban Chấp hành Trung ương. Chúng dùng kìm kẹp, điện giật, gông cùm biệt giam ông trong ngục tối ẩm thấp. Thế nhưng, thể xác gầy gò của người trí thức Hà Huy Tập chứa đựng một bản lĩnh thép. Suốt những tháng ngày nếm trải cực hình đẫm máu, ông không hé răng khai nửa lời, kiên quyết bảo vệ an toàn tuyệt đối cho tổ chức. Do không đủ chứng cứ kết tội nặng, tòa án thực dân đành kết án ông mấy tháng tù rồi trục xuất về quê nhà Hà Tĩnh quản thúc.

Đến năm 1940, ngay khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chuẩn bị bùng nổ, thực dân Pháp hoảng hốt bắt giam Hà Huy Tập trở lại nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) rồi di lý vào Sài Gòn. Chúng khép ông vào tội danh "chịu trách nhiệm tinh thần" cho cuộc khởi nghĩa và kết án tử hình.

Sáng ngày 28 tháng 8 năm 1941, thực dân Pháp đưa Hà Huy Tập cùng các đồng chí lãnh đạo kiệt xuất khác như Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai ra pháp trường Hóc Môn (Gia Định). Đứng trước những họng súng đen ngỏm của quân thù, vị Tổng Bí thư 35 tuổi vẫn giữ nguyên phong thái hiên ngang, ung dung tột bậc. Ông thẳng thừng từ chối lời xin tội hay ký đơn xin ân xá của kẻ thù. Khi tên quan tòa thực dân hỏi ông có lời trăn trối nào không, Hà Huy Tập nhìn thẳng vào mắt kẻ thù và dõng dạc tuyên bố: "Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu tôi còn sống, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc!"

Trước khi loạt đạn tàn bạo vang lên, ông cùng các đồng chí đã hô vang khẩu hiệu: "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!". Tiếng hô anh dũng ấy vang động cả vùng đất Hóc Môn, biến giây phút tử hình thành một khúc tráng ca bất tử của lòng yêu nước.

Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã ngã xuống ở tuổi thanh xuân rực rỡ nhất, nhưng di sản lý luận, tinh thần kiên trung và tấm gương hy sinh oanh liệt của ông đã hòa vào dòng chảy lịch sử, trở thành ngọn đuốc rực cháy thúc đẩy toàn dân tộc đứng lên giành độc lập trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Cuộc đời ông là minh chứng hùng hồn cho chí khí sắt đá của người cộng sản: Sống chiến đấu vì lý tưởng, chết hiên ngang vì tổ quốc.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn