Hà Huy Tập - nhân chứng tham gia sự kiện lịch sử
Hà Huy Tập (1906 – 1941) là nhà cách mạng, Tổng Bí thư thứ ba của Đảng Cộng sản Đông Dương (1936 – 1938). Ông được xem là một trong những lãnh tụ trẻ tuổi, nhà lý luận chính trị xuất sắc, có công lớn khôi phục tổ chức Đảng sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
Hà Huy Tập (1906 – 1941) là nhà cách mạng, Tổng Bí thư thứ ba của Đảng Cộng sản Đông Dương (1936 – 1938). Ông được xem là một trong những lãnh tụ trẻ tuổi, nhà lý luận chính trị xuất sắc, có công lớn khôi phục tổ chức Đảng sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh.Key factsSinh: 24 / 4 / 1906, Cẩm Hưng – Cẩm Xuyên – Hà TĩnhMất: 28 / 8 / 1941, Hóc Môn – Gia ĐịnhChức vụ: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương (1936–1938)Tác phẩm tiêu biểu: Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương; Tờ-rốt-xki và phản cách mạngCâu nói nổi tiếng: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi vẫn tiếp tục hoạt động.”Tuổi trẻ và bước vào con đường cách mạngSinh trong gia đình Nho học, Hà Huy Tập sớm theo nghề giáo, dạy tại Nha Trang và Vinh. Ông tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng và sớm chịu ảnh hưởng tư tưởng Nguyễn Ái Quốc. Năm 1929, ông sang Liên Xô học tại Trường Đại học Phương Đông, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Liên Xô và viết các công trình nghiên cứu đầu tiên về phong trào cộng sản ở Đông Dương .Lãnh đạo Đảng trong giai đoạn khó khănNăm 1934, ông tham gia Ban chỉ huy hải ngoại của Đảng cùng Lê Hồng Phong. Từ 1936 đến 1938, với cương vị Tổng Bí thư, Hà Huy Tập đã khôi phục hệ thống tổ chức Đảng, củng cố ba xứ ủy, trực tiếp lãnh đạo phong trào Đông Dương Đại hội và thời kỳ Mặt trận Dân chủ . Ông còn chủ trì soạn thảo báo cáo chính trị Đại hội I của Đảng (1935) – văn kiện xác lập đường lối cách mạng trong giai đoạn mới.Tư tưởng và di sảnHà Huy Tập là cây bút lý luận sắc sảo, kiên trì bảo vệ quan điểm Mác – Lênin, phản bác chủ nghĩa Tờ-rốt-xki, khẳng định tính độc lập của phong trào Việt Nam trong quốc tế cộng sản. Các tác phẩm và bài viết của ông góp phần hình thành nền tảng lý luận cho Đảng trong những năm 1930 .Bắt bớ và hy sinhTháng 5 / 1938, ông bị thực dân Pháp bắt, sau đó kết án tử hình vì “trách nhiệm tinh thần đối với Khởi nghĩa Nam Kỳ”. Ngày 28 / 8 / 1941, Hà Huy Tập cùng Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần và Nguyễn Thị Minh Khai bị xử bắn tại Hóc Môn. Năm 2009, hài cốt ông được an táng tại quê nhà Cẩm Hưng – Hà Tĩnh, nơi nay có Khu di tích quốc gia mang tên ông .Vinh danhTên Hà Huy Tập được đặt cho nhiều tuyến phố, trường học và phường tại Việt Nam. Hình tượng ông trở thành biểu tượng của ý chí kiên trung, đạo đức cách mạng và lòng tin vào thắng lợi của sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.



