Hà Nguyên Thị – Người “lương y kiêm từ mẫu” giữa những năm tháng chiến tranh
Phạm Anh Thư
Sinh năm 1916, dân tộc Kinh, quê ở xã Tích Giang, huyện Tùng Thiện, tỉnh Hà Tây, Hà Nguyên Thị nhập ngũ tháng 7 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là chiến sĩ quân y thuộc Cục Quân y, Tổng cục Hậu cần, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Suốt 8 năm làm công tác hộ lý, y tá, Hà Nguyên Thị luôn giữ trong mình tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy với công việc và hết lòng chăm sóc thương, bệnh binh. Dù một chân bị thọt, đồng chí vẫn không để điều đó trở thành trở ngại. Trong công việc, Hà Nguyên Thị luôn cố gắng để năng suất không thua kém những người khỏe mạnh, đồng thời tích cực học tập, rèn luyện, đoàn kết và giúp đỡ đồng đội. Sự tận tụy của đồng chí đã trở thành tấm gương đẹp, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua trong toàn ngành quân y.
Năm 1947, khi địch mở cuộc càn lên Mỹ Đức, Hà Tây, Hà Nguyên Thị được giao phụ trách một chiếc thuyền chở 25 thương binh. Trong tình thế dân công không có, đồng chí không chần chừ mà tự mình lội xuống dòng sông cạn, dùng sức đẩy thuyền. Đồng chí còn vận động được một người lái thuyền cùng tham gia, hai người thay nhau đưa chiếc thuyền vượt qua suốt đêm. Nhờ vậy, toàn bộ số thương binh đã được đưa ra khỏi vòng vây của địch an toàn.
Có lần, hai thương binh mắc bệnh thần kinh bất ngờ chạy vào rừng. Không quản đêm tối và nguy hiểm, Hà Nguyên Thị một mình lần theo dấu vết, tìm kiếm suốt đêm và cuối cùng đưa được cả hai đồng chí trở về viện quân y. Với những thương binh nặng hay bệnh binh mắc bệnh truyền nhiễm, đồng chí luôn ở bên chăm sóc, không ngại khó khăn, không nề hà vất vả. Trong khi bình thường một hộ lý chỉ có thể phục vụ khoảng 4 đến 5 thương binh nặng, Hà Nguyên Thị có thể chăm sóc 10 đến 15 người mà vẫn chu đáo, tận tình.
Những ngày thương, bệnh binh nhập viện đông, đồng chí thường thức trắng đêm để xoa bóp cho anh em hoặc ngồi bên làm điểm tựa để thương binh có thể yên giấc. Khi nhận thấy có người ăn uống kém, Hà Nguyên Thị không chỉ động viên, an ủi mà còn tìm hiểu nguyên nhân, rồi tự tay nấu lại những món ăn phù hợp để anh em ăn được nhiều hơn. Sau mỗi chiến dịch, số lượng thương, bệnh binh tăng lên khiến nơi điều trị thường thiếu chỗ ở, đồng chí lại đi vận động nhân dân giúp đỡ. Khi giường chiếu hỏng, Hà Nguyên Thị tự tìm cách sửa chữa; khi thiếu người phục vụ, đồng chí chủ động làm thêm giờ để công việc không bị gián đoạn.
Không chỉ tận tụy trong công tác chăm sóc thương, bệnh binh, Hà Nguyên Thị còn là người luôn có ý thức tự học và hoàn thiện bản thân. Ngày mới vào bộ đội, đồng chí chưa biết chữ. Thế nhưng bằng sự kiên trì, tranh thủ từng khoảng thời gian để học, chẳng bao lâu sau Hà Nguyên Thị đã đọc thông, viết thạo. Về chuyên môn, đồng chí từng bước phấn đấu từ một hộ lý trở thành một y tá giỏi, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vừa không ngừng nâng cao năng lực phục vụ người bệnh.
Trong cuộc sống hằng ngày, Hà Nguyên Thị luôn giữ phong thái điềm đạm, gương mẫu, đoàn kết, khiêm tốn và giản dị. Chính sự chân thành ấy khiến đồng đội tin cậy, thương binh và bệnh binh yêu mến. Những người từng được đồng chí chăm sóc thường nói: “Thật đúng là một lương y kiêm từ mẫu, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ”.
Với những cống hiến bền bỉ trong suốt những năm tháng chiến tranh, Hà Nguyên Thị đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 28 bằng khen và giấy khen.
Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Hà Nguyên Thị được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Giữa chiến tranh khốc liệt, nơi những người lính phải đối mặt với bom đạn và thương tích, Hà Nguyên Thị lại chọn một cách chiến đấu khác: chăm sóc, cứu chữa và giành giật sự sống cho đồng đội. Dù đôi chân không lành lặn, đồng chí vẫn bước đi không ngừng nghỉ giữa những thương binh, bệnh binh; từ một người chưa biết chữ trở thành một y tá giỏi, từ những công việc âm thầm hằng ngày tạo nên một tấm gương sáng về lòng nhân ái, sự tận tụy và tinh thần trách nhiệm. Hình ảnh người nữ quân y ấy vì thế không chỉ được ghi nhớ bởi những phần thưởng cao quý, mà còn bởi tình thương sâu sắc dành cho những người đã hy sinh, cống hiến vì Tổ quốc.


