Bài viết

HÀ NỘI ĐẦU CÔNG NGUYÊN

Nguyễn Thị Mai Anh

22/08/2026phường Phù Liễn (phường Phù Liễn)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

TRUNG TÂM QUẬN GIAO CHỈ

Vào nửa sau thế kỷ thứ III trước Công nguyên (tr.c.n.), Thục Phán – thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt – kế thừa triều Hùng Vương của bộ tộc Lạc Việt, dựng nên nước Âu Lạc với kinh đô là Cổ Loa. Như vậy là lãnh thổ của người Âu và người Lạc được thống nhất lại thành một quốc gia mà trung tâm là một vùng đất nay thuộc về thành phố Hà Nội. Sự thống nhất đó làm cho đất nước thêm mạnh. Chính vì thế mà trong mấy chục năm cuối thế kỷ thứ III – đầu thế kỷ thứ II tr.c.n., quân của nhà Tần (Thủy Hoàng) rồi quân của nhà Nam Việt (Triệu Đà) nhiều lần xâm lược Âu Lạc đều bị thất bại. Chỉ tới năm 179 tr.c.n., dùng mưu mô quỷ quyệt, Triệu Đà mới thắng được Thục Phán và sáp nhập nước Âu Lạc vào lãnh thổ nước Nam Việt của Đà (lập nên từ năm 207 tr.c.n. do việc tách khỏi đế quốc Tần ba quận là Tượng, Nam Hải và Quế Lâm tức hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay). Cũng từ đó, Âu Lạc bị chia làm hai quận: Giao Chỉ và Cửu Chân.

Nhưng nhà Triệu không tồn tại được lâu. Năm 111 tr.c.n., nhà Tây Hán (206 tr.c.n. – 8 s.c.n.) đưa quân đánh Nam Việt. Sau khi tiêu diệt họ Triệu, Tây Hán chia phần đất cũ của Triệu Đà ra làm bốn quận là Nam Hải, Hợp phố, Thương Ngô, Uất Lâm, giữ nguyên hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, lập thêm quận Nhật Nam ở phía Nam quận Cửu Chân, hợp với hai quận ở đảo Hải Nam là Chu Nhai, Đạm Nhĩ thành ra bộ Giao Chỉ. Việc lấy tên của quận Giao Chỉ làm tên gọi chung cho bộ mới đặt ra này chứng tỏ quận Giao Chỉ khi đó là một quận trọng yếu, nếu không là quận lớn nhất thì cũng là đông dân nhất. Vì trong sách Tiền Hán thư (q.8 Địa lý chí) có số liệu về nhân khẩu các quận thuộc bộ Giao Chỉ vào khoảng thời gian cuối Tây Hán:

Quận Nam Hải có 94.253 nhân khẩu, 19.613 hộ.
Quận Thương Ngô có 71.162 nhân khẩu, 24.397 hộ.
Quận Uất Lâm có 146.160 nhân khẩu, 12.415 hộ.
Quận Hợp Phố có 78.980 nhân khẩu, 15.398 hộ.
Quận Giao Chỉ có 746.237 nhân khẩu, 92.440 hộ.
Quận Cửu Chân có 166.013 nhân khẩu, 35.743 hộ.
Quận Nhật Nam có 89.488 nhân khẩu, 15.460 hộ.

Có thể những số liệu trên không hoàn toàn chính xác nhưng do cùng một nguồn thu thập nên về mặt giá trị sử dụng để so sánh thì có thể chấp nhận được. Những con số đó cho thấy rằng vào đầu Công nguyên, số dân của quận Giao Chỉ đông gấp hai lần số dân của cả bốn quận đầu cộng lại. Điều này nói lên độ tập trung cư dân rất lớn và vị trí đặc biệt quan trọng của quận Giao Chỉ so với toàn thể bộ Giao Chỉ.

Quận Giao Chỉ ngày ấy (thời thuộc Hán) tương ứng với đất Bắc Bộ ngày nay trừ miền tây – bắc còn ở ngoài phạm vi thống trị của nhà Hán và phía tây – nam (miền ven biển Nam Định, Ninh Bình…) bấy giờ còn là biển. Quận này gồm mười huyện: 1. Liên Lâu, 2. An Định, 3. Câu Lậu, 4. Mê Linh, 5. Khúc Dương, 6. Bắc Đái, 7. Kê Từ, 8. Tây Vu, 9. Long Biên, 10. Chu Diên. So với sự phân bố đó thì thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận được đề cập trong tập sách nằm trên đất đai của bốn huyện Mê Linh, Chu Diên, Liên Lâu và Tây Vu.

Các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất (Hà Tây) nằm giữa ba mặt sông (sông Đà, sông Hồng, sông Đáy) thuộc địa hạt huyện Mê Linh.

Các huyện Đan Phượng, Hoài Đức (Hà Tây), hai huyện Từ Liêm, Thanh Trì và bốn quận cũ nội thành Hà Nội là thuộc địa hạt huyện Chu Diên.

Các huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sóc Sơn, Đông Anh và phần đất huyện Gia Lâm (Hà Nội) ở tả ngạn sông Đuống là thuộc địa hạt huyện Tây Vu.

Còn huyện Gia Lâm phần nằm giữa sông Hồng và sông Đuống thì thuộc huyện Liên Lâu [1].

Nằm trên đất đai của các huyện đó, Hà Nội vào đầu Công nguyên là trung tâm của quận Giao Chỉ đồng thời của cả bộ Giao Chỉ, không riêng về mặt địa lý mà cả về chính trị và quân sự. Vì suốt thời Tây Hán, trị sở quận Giao Chỉ đặt ở huyện Mê Linh, mà trị sở bộ Giao Chỉ cũng là đặt tại đó. Sang thời Đông Hán, các trị sở này chuyển sang huyện Liên Lâu (nay là khu vực làng Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Nhưng Mê Linh vẫn là nơi đồn trú của viên đô úy quận Giao Chỉ, tức là viên chỉ huy lực lượng vũ trang của quận. Về vị trí huyện Mê Linh hiện có hai chủ trương khác nhau, hoặc đặt ở bên tả ngạn sông Hồng với huyện trị là làng Hạ Lôi nay thuộc xã Mê Linh, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc (như lâu này vẫn quan niệm) hoặc đặt ở bên hữu ngạn sông Hồng mà huyện trị cũng là làng Hạ Lôi nhưng thuộc xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, Hà Tây (như nhận định của nhà địa lý lịch sử Đinh Văn Nhật).

Cho nên nếu như Hà Nội mất vị trí kinh đô từ năm 179 tr.c.n. với việc thất thủ Cổ Loa thì Hà Nội vẫn thuộc bộ Giao Chỉ và quận Giao Chỉ, nơi đụng đầu trực tiếp giữa người dân Âu Lạc và bọn ngoại xâm đô hộ. Cũng nơi đây là địa bàn quan trọng của cuộc khởi nghĩa lần đầu tiên thành công trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta: cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

GIAO CHỈ TRƯỚC CUỘC KHỞI NGHĨA

Thư tịch ghi chép về tình hình xã hội cũng như sinh hoạt nhân dân Giao Chỉ ngày ấy thì thật sự ít ỏi. Tư liệu cổ nhất là đoạn văn của Giao Châu ngoại vực ký được trích dẫn trong Thủy kinh chú. Đoạn này tuy ngắn ngủi nhưng đã phác họa một cách rất cơ bản tình hình sinh hoạt của dân cư Giao Chỉ thời tr.c.n: “Thời xưa, Giao Chỉ chưa có quận huyện thì đất đai có ruộng Lạc, ruộng ấy theo nước thủy triều lên xuống (mà làm). Dân làm ruộng ấy mà ăn nên gọi là dân Lạc”.

Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận định rằng ruộng canh tác theo nước triều lên xuống như thế thì chỉ có thể là ruộng cấy lúa. Khảo cổ học đóng góp một dẫn chứng cụ thể: ở di chỉ Đồng Đậu (nay thuộc huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phú, xưa là đất huyện Tây Vu) có hạt lúa mà qua phân tích đồng vị phóng xạ C14 thì có niên đại là 3300 ± 100 năm. Như vậy là vào thời các vua Hùng mới dựng nước, người Việt đã trồng lúa ở đồng bằng sông Hồng. Ngoài nghề trồng lúa ra, nghề làm vườn trồng cây ăn quả cũng phát triển. Nam phương thảo mộc trạng có ghi là vào năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (tức năm 111 tr.c.n.), vừa chiếm xong Nam Việt, thành lập quận Giao Chỉ, Hán Vũ Đế đã cho xây cung Phù Lệ để trồng cây quí ở đất Nam Việt mang về, có 100 cây vải và 2 cây chuối tiêu. Tiền Hán thư cho biết là từ đời Hán Vũ Đế ở Giao Chỉ có chức quất quan coi riêng việc cống quít, có chức tu quan để đốc thúc việc dâng tiến hoa quả, thức ăn. Dị vật chí chép: “Mía sản xuất ở Giao Chỉ đặc biệt tốt và ngon, gốc và ngọn đều ngọt… ép lấy nước làm thành đường”. Tiền Hán thư còn cho biết “Người Lạc Việt biết trồng dâu… dệt vải”  [2].

Bấy nhiêu thư tịch cho phép đoán định rằng vào đầu Công nguyên, ở Giao Chỉ (trong đó có đất Hà Nội) đã phát triển các nghề trồng lúa, làm vườn, trồng mía, trồng dâu (tức là đã biết nuôi tằm lấy tơ) và trồng bông. Trong mấy chục năm gần đây, nhờ những thành tựu của ngành khảo cổ mà sự đoán định đó thêm chắc chắn hơn. Cùng với những nhát cuốc khai quật lòng đất Hà Nội, ngành khảo cổ đã kể lại một cách đáng tin cậy về cuộc sống của người Hà Nội thời bấy giờ, đặc biệt là đã làm sáng tỏ một sự thật là không đợi đến đầu Công nguyên mà ngay từ thời các vua Hùng dựng nước, Hà Nội đã có những điểm tụ cư lớn, những làng cổ khá đông đúc như:

Cách đây bốn nghìn năm, ở Văn Điển và Triều Khúc (huyện Thanh Trì), Đồng Vông và Xuân Kiều (huyện Đông Anh), Gò Ấp (huyện Kim Anh), Gò Đồng (huyện Ba Vì)… đã có cư dân biết sử dụng rìu đá, đục đá, biết chế tác thật tinh xảo những mũi tên đá khá lợi hại, những viên “chì” lưới để đánh cá, biết làm đồ gốm với những hoa văn tinh tế…

Cách đây trên ba nghìn năm, ở Thành Dền (huyện Mê Linh), Vườn Chuối (huyện Hoài Đức), Đồi Đà (huyện Ba Vì), Tiên Hội và Bãi Mèn (huyện Đông Anh)… kỹ thuật đúc đồng đã bắt đầu có đà phát triển: những mũi tên đồng, lưỡi rìu đồng đã xuất hiện bên cạnh các công cụ bằng đá.

Cách đây trên hai nghìn năm, ở Núi Cả (thị xã Phúc Yên), Vinh Quang và Chiền Vậy (huyện Hoài Đức), Gò Chùa Thông (huyện Thanh Trì), Đình Tràng (huyện Đông Anh)… dân cư đã đúc đồng thành thạo với hàng loạt sản phẩm như rìu, đục, lưỡi cày, lưỡi câu, giáo, loa, mũi tên, dao găm, vòng trang sức… Đặc biệt ở Gò Chùa Thông có tìm thấy một lưỡi hái là lưỡi thứ hai tìm thấy ở nước ta, một bằng chứng chắc chắn về sự phát triển cao của nghề làm ruộng Lạc, ruộng lúa nước (Lưỡi hái thứ nhất là ở Gò Mun, tỉnh Phú Thọ).

Tới khoảng dăm sáu trăm năm tr.c.n. và tiếp đến đầu Công nguyên, làng mạc ở vùng Hà Nội bấy giờ mọc lên nhiều hơn, qui mô cũng rộng hơn. Đó là Trung Mầu (huyện Gia Lâm), Đường Mây và Cổ Loa (huyện Đông Anh), Tam Hiệp (huyện Phúc Thọ), Tây Đằng (huyện Ba Vì)… Dân cư những nơi đó không chỉ đã làm chủ kỹ thuật đúc đồng mà còn biết nấu sắt [3]. Sắt đã là vật liệu để tạo ra những lưỡi cuốc và nhiều nông cụ khác. Theo đó nền công nghiệp (làm ruộng và làm vườn) tất phải ở một trình độ phát triển khá cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự ghi chép của các thư tịch dẫn bên trên.

Song những bằng chứng thư tịch và hiện vật khảo cổ đó thực ra cũng chỉ mới cho thấy những công cụ lao động, những vũ khí cùng với những sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp mà nhân dân ngày ấy làm ra. Còn như thời đại đó là ở trong phương thức sản xuất nào, thuộc về hình thái kinh tế – xã hội nào thì còn thiếu nhiều tư liệu để khái quát, chỉ có thể đoán định rằng cuộc đô hộ của bọn bành trướng phương Bắc với nhiều phương thức bóc lột khác nhau đã làm chậm lại không ít bước tiến của xã hội Âu Lạc.

Tuy nhiên, nếu chấp nhận sự suy luận thì những con số thống kê nhân khẩu và số hộ của bộ Giao Chỉ trong sách Tiền Hán thư (đã nêu ở trên) cho phép biết thêm về tình hình xã hội Giao Chỉ vào khoảng thời gian được đề cập tới trong sách đó. Theo những con số này, vào thế kỷ thứ nhất tr.c.n và những năm đầu Công nguyên, ở Giao Chỉ đã thống kê được tới đầu người và đặc biệt là đầu hộ. Như vậy đơn vị cơ sở của xã hội đã là từng hộ gia đình. Gia đình nói ở đây là gia đình nhỏ. Lấy con số nhân khẩu chia cho số hộ thì ở quận Giao Chỉ ngày ấy mỗi hộ (tức gia đình) trung bình chỉ có tám người (746237 : 92400 = 8 ). Rõ ràng đây là một loại hình gia đình nhỏ [4]. Mà gia đình nhỏ đã trở thành đối tượng thống kê – tức cũng là đã trở thành những đơn vị tồn tại và phổ biến trong xã hội – thì như vậy có nghĩa là chế độ thị tộc dựa trên quan hệ dòng máu (huyết thống) đã tan rã. Đây là một trong những dấu hiệu chứng tỏ rằng đến thời kỳ trước và kế tiếp mốc Công nguyên – trong đó có thời kỳ Hai Bà Trưng – thì đã qua đi rồi cái thời kỳ công xã thị tộc. Lúc này công xã nông thôn hình thành do quan hệ láng giềng (từ bao lâu thì chưa thể xác định) đã trở nên phổ biến trong xã hội. (Công xã nông thôn gồm những gia đình nhỏ, có thể cùng hoặc khác huyết thống tập hợp lại trên một địa vực và do yêu cầu của sản xuất – ở nước ta là trồng lúa nước – cũng như yêu cầu tự vệ đã gắn bó với nhau thành láng giềng). Và trong gia đình thì chế độ phụ quyền đã chiếm ưu thế.

Thực tế có như vậy, bởi một khi đã xuất hiện gia đình nhỏ tức là sức sản xuất đã lên cao, xã hội đã bước vào thời kỳ trồng trọt phát triển. Vì từ thị tộc mà tách ra được thành những gia đình nhỏ thì nguồn sống xã hội nói chung là ổn định, gia đình nhỏ đã có đủ khả năng tự túc về những nhu cầu ăn mặc. Muốn được như thế, công cụ sản xuất phải có hiệu quả lớn, không thể chỉ là bằng đá mà phải là bằng kim khí sắc bén, có vậy mới đủ khả năng đẩy mạnh nghề trồng trọt, bảo đảm nguồn sống cho các thành viên của từng gia đình.

Sự đoán định này được khảo cổ học hậu thuẫn: qua xác định niên đại các di vật, ngành khảo cổ học đã nhất trí nhận định rằng thời kỳ phát triển rực rỡ của đồng thau và bước đầu chuyển sang đồ sắt – tức thời kỳ cuối của giai đoạn văn hóa Đông Sơn – chính là khoảng thời gian vài ba trăm năm trước và đầu mốc Công nguyên mà thời kỳ Hai Bà Trưng là những năm tháng kết thúc [5].

DƯỚI ÁCH CAI TRỊ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐÔ HỘ

Như đã nêu ở trên, Triệu Đà chia nước Âu Lạc làm hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Nhưng sau đấy tổ chức cai trị ra sao và tình hình xã hội hai quận đó như thế nào thì tài liệu rất nghèo nàn. Chỉ có thể biết một cách đại thể là Triệu Đà không xóa bỏ thiết chế sẵn có của nhà nước Âu Lạc, tức là vẫn duy trì chế độ lạc tướng, vẫn để các lạc tướng giữ quyền thế tập mà cai quản các bộ lạc của mình. Ở mỗi quận, Triệu Đà chỉ đặt một chức điển sứ coi việc chung, chủ yếu là kiểm soát và đôn đốc các lạc tướng đóng nộp cống phẩm. Bên cạnh điển sứ còn có chức tả tướng phụ trách lực lượng vũ trang đồn trú. Như vậy, một điều rất có ý nghĩa là chính việc Triệu Đà không dám cai trị trực tiếp Âu Lạc – như đối với Lưỡng Quảng – đã nói lên rằng nước Âu Lạc từng có một cơ cấu nhà nước với những chế thiết riêng biệt ổn định, hình thành trên cơ sở ý thức dân tộc khá vững chắc.

Phương thức bóc lột chủ yếu ở thời kỳ này là cống nạp các vật lạ của quí của Âu Lạc: đồi mồi, châu ngọc, sừng tê, ngà voi và các đặc sản nhiệt đới như hoa quả, hương liệu… Không có tài liệu gì nói vế đời sống nhân dân ngày ấy nhưng điều có thể khẳng định được là nhân dân Âu Lạc lần đầu tiên gánh chịu thêm ách bóc lột của ngoại bang thì cuộc sống hẳn phải cơ cực và tủi nhục. Ngoài việc phục vụ các quí tộc bản địa, họ còn phải săn bắt tìm kiếm những của báu, vật lạ để cống nạp bên cạnh việc thường xuyên phải đóng góp những sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt và thủ công. Trong hoàn cảnh như vậy thì dù là đang ở trong một hình thái kinh tế – xã hội nào, nhân dân Âu Lạc cũng khó có thể phát triển sản xuất.

Nhà Tây Hán, sau khi diệt nhà Triệu, đã áp dụng chế độ quận huyện như ở Trung Quốc, tức là chia mỗi quận ra làm một số huyện, đứng đầu mỗi huyện là chức huyện lệnh (đối với huyện có trên một vạn hộ, còn huyện có số hộ dưới một vạn thì đặt chức huyện trưởng) do triều đình bổ dụng. Nhưng ở Giao Chỉ (và cả ở Cửu Chân, Nhật Nam) nhà Hán coi mỗi bộ lạc hoặc một liên minh bộ lạc là một huyện và vẫn để các lạc tướng cai trị với quyền thế tập như cũ, chỉ đổi danh hiệu ra là huyện lệnh (hoặc huyện trưởng) mà thôi. (Hậu Hán thư có ghi là “để lạc tướng cai trị dân như cũ” và “dùng tục cũ mà cai trị”). Như vậy là trên đại thể, Tây Hán vẫn duy trì phương thức cai trị của nhà Triệu, dù nguồn bóc lột không phong phú bằng phương thức trực tiếp cai trị nhưng lại ít động chạm đến quyền lợi của quí tộc bản địa, tức là ít gây mâu thuẫn giữa chính quyền đô hộ với giai cấp thống trị địa phương.

Ngoài ra, điều đó một lần nữa nói lên rằng tính bền vững của cộng đồng dân Âu Lạc đã khiến nhà Tây Hán không thể nhất loạt áp dụng chế độ quận huyện như ở Trung Quốc.

Cai quản mỗi quận là chức thái thú, có thêm chức đô úy chỉ huy số quân sĩ đồn trú để trấn áp nhân dân khi cần.

Đứng đầu bộ Giao Chỉ (đến năm 203 đổi gọi là Giao Châu) là viên thứ sử (có lúc gọi là châu mục). Nhưng thứ sử không cai trị trực tiếp mà chỉ giám sát các quan lại ở các quận. Hàng năm vào tháng tám, thứ sử đi tuần tra xem xét công việc cai trị của các thái thú. Sang đầu năm sau, y về kinh đô tâu trình. Như vậy thái thú là người thay mặt trực tiếp chính quyền đô hộ và có toàn quyền cai trị dân bản xứ. Hàng năm thái thú thu cống phẩm đưa tiến về triều.

Ban đầu có lẽ nhà Tây Hán chưa thu thuế, vì Sử ký (q 30) của Tư Mã Thiên có ghi “lương ăn vật dụng của quan lại sĩ tốt đều chở từ các quận cũ tới”. Như vậy là ở địa phương Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam không có thuế lúa hoặc có nhưng chẳng bao nhiêu. Phương thức bóc lột cơ bản vẫn là cống nạp. Cống phẩm vẫn là các của quí, vật lạ. Và nguồn tai họa cho nhân dân cũng vẫn là do đó mà ra. Vì để có những cống phẩm ấy, nhân dân Âu Lạc lại vẫn phải chịu bao cay đắng và tội vạ, phải xông pha lam chướng, xuống biển, lên rừng. Nhưng dần về sau, sự áp bức bóc lột còn tăng lên mạnh hơn. Nạn gánh chịu phu phen tạp dịch, xây cất thành lũy, công thự, tư dinh… ngày một nặng nề. Rất nhiều người biến thành nô tì phục vụ bọn quan lại đô hộ, thậm chí biến thành món hàng đổi trao mua bán. Tiền Hán thư (phần biểu q.2) có chép: “Vào năm Ngũ Phượng thứ 4 (tức 54 tr.c.n.), hầu tước Ích Xương can tội khi làm thái thú Cửu Chân trộm sai người mua nô tì và sừng tê, tang vật trị giá trên trăm vạn”. Hẳn đây không phải là một trường hợp duy nhất.

Ngoài ra để việc kiểm soát nhân dân Âu Lạc thêm chặt chẽ. Tây Hán dùng chính sách “trồng người”. Hậu Hán thư (q.86) ghi: “Dời những tội nhân Trung Quốc cho ở lẫn với họ. Như thế là vừa để chế ngự, vừa đồng hóa người bản địa. Cho nên nhân dân Âu Lạc đã phản ứng lại”. Sử ký (q.30) và Tiền Hán thư (q.24) còn ghi: “Đối với những quận mới chinh phạt (tức Giao Chỉ và Cửu Chân) quan lại quân sĩ Trung Quốc phần nhiều xâm phạm, vì vậy dân thường nổi lên giết quan lại nhà Hán”.

Trong khoảng một trăm năm trước Công nguyên, đại thể sự cai trị của nhà Tây Hán là như vậy. Tới những năm đầu Công nguyên, nhà Tây Hán lâm vào cơn khủng hoảng. Nông dân Trung Quốc nổi lên khắp nơi. Lợi dụng tình hình đó, vào năm 8, Vương Mãng cướp ngôi vua, lập ra nhà Tân. Rất nhiều quí tộc, quan lại, sĩ phu mà quyền lợi gắn bó với nhà Hán đã chống lại Vương Mãng. Một số chạy sang Giao Chỉ. Bọn này bổ sung thêm “quân số” cho bộ máy đô hộ, góp phần quan trọng vào công cuộc đồng hóa mà chính quyền Tây Hán đã thực hiện, đồng thời đẩy mạnh quá trình chiếm đoạt ruộng đất của các cộng đồng người Âu Lạc, lập ra những trang trại riêng nằm ngoài vòng kiểm soát của các lạc tướng huyện lệnh.

Năm 23, Lưu Tú diệt Vương Mãng rồi sau đó lên ngôi vua tức Quang Vũ Đế (25-56), tái lập nhà Hán. Sau này sử sẽ gọi đó là nhà Đông Hán hoặc Hậu Hán (25-220).

Hán Quang Vũ ra sức tăng cường quyền lực ở các địa phương xa. Trước đó hàng năm thứ sử tự mình về kinh đô báo cáo tình hình cai trị ở các quận thì từ bấy giờ phải ở luôn tại trị sở, dù có tang cha mẹ cũng không được bỏ chức, hàng năm chỉ cử một viên kế lại về thay. Cũng từ đấy thứ sử được giao thêm chức năng cai trị chứ không chỉ thanh tra như trước. Và một số chức vụ gọi là tòng sự sử được đặt ra để trông coi công việc cai trị giúp thứ sử như công tào tòng sự sử coi việc dân chính, binh tào tòng sự sử coi việc binh v.v…

Coi giữ các quận vẫn là thái thú nhưng có đặt thêm chức quận thừa để giúp việc. (Các quận ở xa có thêm chức trưởng sử). Về mặt quân sự, trước đó ở mỗi quận có viên đô úy trông coi lực lượng vũ trang đồn trú, chức phó là đô úy thừa. Năm Kiến Vũ thứ 6 (năm 30) có lệnh bãi hai chức này mà giao cho thái thú kiêm giữ. Như vậy là quyền lực của thái thú được nâng cao hơn trước. Do đó bộ máy giúp việc thái thú cũng được bổ sung: dưới thái thú và quận thừa có đặt các chức duyện sử chuyên trách từng phần việc dân, chính, quân sự… như nơi nào có muối thì thêm chức diêm quan, nơi nào có nghề rèn sắt thì thêm chức thiết quan v.v…

Còn ở cấp huyện thì vẫn là huyện lệnh, huyện trưởng – vốn là lạc tướng – cai quản nhưng hẳn là bị thắt buộc hơn trước và quyền lực (cả quyền lợi nữa) cũng có bị thu hẹp, giảm sút.

Nói chung ở Giao Chỉ và các quận khác, tới thời Đông Hán ách trực trị ngày một rõ hơn. Bộ máy cai trị được bổ sung và tổ chức lại chặt chẽ hơn. Để đủ cung cấp lương thực và phát lương cho các quan lại, binh lính, chính quyền đô hộ phải tăng cường bóc lột. Việc đánh thuế đã là hiển nhiên và tất phải đều đặn, ráo riết [6]. Cuộc sống nhân dân bị gò bó, khốn đốn hơn, lao dịch nặng nề hơn, việc sách nhiễu tăng lên, ruộng đất của các bộ lạc, các cộng đồng bị bao chiếm nhiều nên số người dân Âu Lạc trở thành nông nô, nô tì cho bọn quan lại quí tộc Trung Quốc cũng đông lên. Đời sống của họ càng cơ cực vì ách bóc lột trực tiếp của bọn địa chủ ngoại tộc mới này rất nặng nề và tàn bạo.

Trong khoảng thời gian ấy, ở Giao Chỉ, Tích Quang sang làm thái thú (từ những năm đầu Công nguyên). Còn ở Cửu Chân thì Nhâm Diên giữ chức thái thú từ năm 25. Các pho sử Trung Quốc đều ca ngợi hai viên này. Như Hậu Hán thư (q.86) chép: “Đời Quang Vũ, Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân, dạy cho dân biết cày cấy, chế tạo mũ giày, bắt đầu đặt mối lái, dân mới biết hôn nhân. Dựng học hiệu, dạy dân lễ nghĩa”. Hoặc: “Đời Bình Đế (1-5 s.c.n.), Tích Quang sang làm thái thú Giao Chỉ, dạy dân Di (chỉ dân Âu Lạc lúc bấy giờ – N.V.P) dần hóa theo lễ” (q.760). Và: “Diên khiến đúc chế điền khí, dạy dân khai khẩn ruộng đất” (q.76).

Đó chỉ là những dòng phóng đại vừa để đề cao bọn quan lại đô hộ và tô điểm cho chính sách cai trị của nhà Hán, lại vừa để xuyên tạc hạ thấp trình độ văn minh của nhân dân ta ngày ấy. Vì không phải đợi đến hai viên thái thú dạy bảo thì người Âu Lạc mới biết cày cấy. Giao Châu ngoại vực ký chẳng đã từng ghi “Giao Chỉ khi chưa có quận huyện (tức trước khi thuộc Hán) đã có ruộng Lạc” đó sao! Còn việc đúc điền khí thì khảo cổ học đã cho biết rằng trước Công nguyên hàng bốn, năm thế kỷ người dân nước Văn Lang đã có những nông cụ bằng đồng và cả bằng sắt nữa, như lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi hái… Có điều là cách canh tác cấy trồng của người Việt khác với canh tác của người Hán. Bọn Tích Quang, Nhâm Diên muốn xóa bỏ tập quán này của người Âu Việt, Lạc Việt thay thế bằng kiểu cách Hán hòng thủ tiêu đặc tính dân tộc của người Việt.

Còn việc gọi là “chế tạo mũ, giày, bắt đầu mối lái, biết hôn nhân, dựng học hiệu, dạy lễ nghĩa” thì thực chất là sự truyền bá Nho giáo vào xã hội Âu Lạc, làm cơ sở cho ý thức hệ phong kiến. Đó chính là thực hiện chủ trương đồng hóa, cưỡng bức dân ta theo phong tức lễ nghi phong kiến Hán tộc, từ việc ăn mặc đến việc cưới xin. Ngoài mục đích đó, việc mở trường học còn nhằm đào tạo thuộc viên và nô dịch hóa lớp thanh niên đương thời. Riêng việc “đặt mối lái, dân mới biết hôn nhân” thực ra thì là áp đặt những lễ nghi phong kiến phiền toái. Vì như đã nêu ở trên (mục II) vào thời kỳ này thì chế độ phụ hệ đã được xác lập. Gia đình một vợ một chồng đã thay thế chế độ quần hôn, theo đó việc cưới xin tất đã có rồi, có điều là theo phong tục người Việt và dĩ nhiên là xa lạ với người Hán [7].

Tóm lại, những chính sách của Tích Quang, Nhâm Diên chỉ là “nhằm củng cố và mở rộng thế lực thống trị của phong kiến, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phong kiến thực dân, phát triển những hình thái ý thức phong kiến” [8] đặng tăng cường bóc lột và đẩy mạnh đồng hóa, cưỡng bức nhân dân Âu Lạc theo văn hóa phong kiến Trung Quốc.

Sự tình này làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân Âu Lạc và chính quyền đô hộ thêm gay gắt. Nhất là ở Giao Chỉ, do trình độ sinh hoạt, trình độ sản xuất cao hơn Cửu Chân, Nhật Nam (Cửu Chân phải mua lúa của Giao Chỉ) nên chính sách bóc lột và đồng hóa của chính quyền đô hộ bị phản ứng mạnh hơn. Tới năm Kiến Vũ thứ 10 (năm 34), sau khi Tô Định sang làm thái thú Giao Chỉ thì cộng với sự tham lam tàn bạo của hắn, ách thống trị của nhà Đông Hán đối với dân Giao Chỉ là không thể chịu đựng được nữa.

Điều đáng chú ý là lúc này nhà Hán đang ở thế hưng thịnh. Hán Quang Vũ kiêu hãnh với hàng loạt chiến công trong và ngoài nước: dẹp Vương Mãng, chiếm Tây Vực, Triều Tiên, thông thương với Ấn Độ, tiếp xúc với La Mã… Tên vua “hiếu đại hí công” này không muốn để Âu Lạc tồn tại một cách lỏng lẻo – như một thế kỷ qua – trong đế quốc Đại Hán mà muốn đồng hóa nhanh chóng triệt để bằng mọi cách, kể cả vũ lực. Tô Định chính là kẻ thực hiện chính sách đó. Bên cạnh việc ra sức bóc lột dân chúng, hắn ta tiến hành diệt trừ những người có uy tín và khả năng tập hợp dân chúng chống quân Hán, tức là các lạc tướng – huyện lệnh. Việc giết hại Thi Sách là một dẫn chứng. Cho nên lúc này là thời điểm đụng đầu lịch sử quyết liệt. Người Âu Lạc có cam chịu để người Hán đồng hóa không? Phải trả lời dứt khoát! Và người Âu Lạc đã trả lời bằng hàng động: mọi người, bắt đầu từ quận Giao Chỉ, đã nổi dậy chống lại cường quyền, cuốn theo các quận láng giềng lên đường tranh đấu để rồi qui tụ lại thành Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng lở đất long trời làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống cai trị mà nhà Hán đã thiết lập ở bộ Giao Chỉ trên một thế kỷ qua

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn