Hà Thị Yến (4)
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH Hồi ức của Ngân Văn Đoan (Tháng 9 năm 1965 – Tháng 11 năm 1972)
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Hồi ức của Ngân Văn Đoan (Tháng 9 năm 1965 – Tháng 11 năm 1972)
Tôi là Ngân Văn Đoan. Tháng 9 năm 1965, khi vừa tròn hai mươi hai tuổi, tôi rời quê hương, khoác ba lô lên đường nhập ngũ. Ngày tiễn tôi đi, làng xóm đông đủ, nhưng ai cũng nói ít. Chiến tranh lúc đó đã lan rộng, không ai còn coi việc ra trận là điều xa lạ. Tôi bước đi trong tiếng trống tiễn quân, lòng vừa háo hức, vừa nặng trĩu vì biết rằng phía trước là những năm tháng không dễ dàng.
Sau thời gian huấn luyện, tôi được biên chế vào đơn vị chiến đấu, hành quân vào các chiến trường ác liệt. Những ngày đầu trong quân ngũ, tôi mới hiểu chiến tranh không giống như những gì từng nghe kể. Đó là những đêm hành quân trong mưa rừng, vai đè nặng ba lô, chân lún sâu trong bùn đất. Đó là những bữa cơm vội bên đường, nắm gạo trộn muối vừng chia nhau từng thìa.
Những năm 1966 -1967, chiến trường ngày càng khốc liệt. Máy bay Mỹ đánh phá liên tục, bom đạn trút xuống không ngơi. Có những ngày chúng tôi phải đào hầm, trú ẩn suốt hàng giờ liền. Đất đá rung chuyển, khói bom mù mịt. Khi tiếng nổ vừa dứt, lại lập tức ra khỏi hầm để củng cố công sự, chuẩn bị cho đợt tiếp theo. Tôi dần quen với mùi thuốc súng, quen với tiếng bom rít trên đầu, nhưng không bao giờ quen được cảm giác mất mát khi đồng đội ngã xuống.
Kỷ niệm đáng nhớ là trận núi đá Bình Định bị thương, bản than vẫn cố gắng đưa đồng đội chốn vào hầm đá nhịn đói 3 ngày, 3 đêm trong cuộc chiến khốc liệt, cam go.
Tôi còn nhớ rõ một trận đánh vào năm 1968. Đơn vị tôi được lệnh giữ một vị trí trọng yếu. Địch đánh dữ dội, bom phá, pháo bắn liên hồi. Trong làn khói lửa, tôi thấy một người đồng đội ngã xuống ngay bên cạnh. Buổi sáng anh còn chia cho tôi nửa điếu thuốc, chiều đã không còn nữa. Chúng tôi không kịp khóc, chỉ siết chặt tay nhau, tiếp tục chiến đấu. Lúc ấy tôi hiểu rằng: nếu chùn bước, sự hy sinh của đồng đội sẽ trở nên vô nghĩa.
Những năm sau đó, từ 1969 đến 1971, cuộc chiến vẫn kéo dài dai dẳng. Chúng tôi vừa chiến đấu, vừa hành quân liên tục, có khi nhiều tháng liền không thấy mặt dân làng. Thư từ từ quê nhà trở thành nguồn động viên lớn nhất. Mỗi lần nhận được thư, tôi đọc đi đọc lại đến sờn cả mép giấy. Những dòng chữ mộc mạc ấy nhắc tôi nhớ rằng mình còn một nơi để trở về, nếu còn sống sót.
Cuộc sống người lính thời chiến thiếu thốn đủ bề. Áo quần vá chằng vá đụp, đôi dép mòn đến mức phải buộc thêm dây. Nhưng trong gian khổ ấy, tình đồng đội lại sáng lên. Chúng tôi chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm, sẵn sàng nhường phần sống cho nhau trong những tình huống hiểm nghèo. Có những đêm nằm trong hầm tối, tôi nghe tiếng thở đều đều của đồng đội mà thấy lòng mình yên hơn giữa bom đạn.
Tháng 11 năm 1972, sau nhiều năm chiến đấu liên tục, tôi nhận lệnh rời đơn vị, hoàn thành một chặng đường dài trong kháng chiến chống Mỹ. Ngày rời chiến trường, tôi đứng lặng nhìn lại những cánh rừng, con suối, những nơi đã in dấu chân mình suốt bao năm. Nhiều đồng đội của tôi đã nằm lại ở đó, mãi mãi không trở về. Tôi tự nhủ sẽ sống tiếp phần đời của họ, sẽ nhớ và kể lại những gì chúng tôi đã trải qua.
Giờ đây, khi nhớ lại quãng thời gian từ tháng 9 năm 1965 đến tháng 11 năm 1972, tôi coi đó là những năm tháng không thể quên của đời mình. Đó là thời tuổi trẻ sống giữa bom đạn, giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết. Tôi kể lại câu chuyện này không phải để nói về chiến công, mà để tri ân những đồng đội đã ngã xuống và nhắc nhở thế hệ sau rằng: hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng rất nhiều máu xương và hy sinh thầm lặng. Gửi gắm đến thế hệ trẻ luôn phải cố gắng học tập và noi gương những thế hệ cha anh đi trước.



