HÀ VĂN BÀN - KÝ ỨC THAM GIA GIẢI PHÓNG MIỀN NAM – THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
HÀ VĂN BÀN, sinh năm 1953, hiện nay cư trú tại thôn Thị Tứ, xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai. Đã từng tham gia các chiến trường: - 1972 – 1973: Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng (Trung Lào) - 1975 – 1976: Tây Nguyên – Chiến dịch Hồ Chí Minh - 1979 – 1980: Bảo vệ Tổ quốc / tỉnh Lào Cai - 1988 – 1989: Bảo vệ Tổ quốc – Hà Giang Bài viết dưới đây là hồi ức ngắn về thời gian tham gia giải phóng miền Nam - thống nhất Tổ quốc
KÝ ỨC THAM GIA GIẢI PHÓNG MIỀN NAM – THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
(PHẦN 2: Tường thuật lại lời kể của Bác Hà Văn Bàn, thôn Thị Tứ, xã Võ Lao, tỉnh Lào Cai sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, Trung Lào)
---------
Sau thời gian huấn luyện, bổ sung đầy đủ quân trang, biên chế thêm tân binh mới ở Nghệ An. Ngày 15/01/1975 Trung đoàn 148 đi đầu lên xe tiến về phía Nam. Chặng dừng chân thứ 2 tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị, nơi đây toàn bãi cát - cây phi lao chống gió, đơn vị nghỉ tại nhà dân. Dân rất nghèo, ở căn nhà bán âm rất hẹp, dù nghèo nhưng yêu thương bộ đội lắm, có bác buồn nói “Các chú vô nhiều, ra ít hề”. Nơi đóng quân của đơn vị cách cầu Hiền Lương không xa, đêm hành quân cơ giới qua sông Bến Hải, qua Cồn Tiên, Giấc Miếu, Gio Linh vào đường 9 Nam Lào, khắp nơi đều đầy vết tích chiến tranh, cung đường giao liên (T) binh trạm đường Trường Sơn bụi đỏ ngập đầy.
Đánh hiệp đồng binh chủng mở màn Chiến dịch Tây Nguyên, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuật (Thời điểm này bác là Trung đội trưởng b2/c9/d4/E148)
Ngày 05/03/1975 toàn Sư đoàn nhận lệnh hành quân tiếp cận mục tiêu. Riêng Trung đoàn 148 gần mục tiêu hơn nên ngày 07/3/1975 bắt đầu xuất phát, Trung đoàn đi ngày đi đêm ăn cơm nắm, lương khô, mỗi người vác trên vai 40kg trở lên, mỗi chiến sỹ bộ binh thêm 1 quả đạn ĐKz – cối 82 – mìn ĐH – Bộc phá ống, ngoài ra còn mang theo 1 bó (10 đoạn tre dài 90cm) để làm nắp hầm ở tuyến xuất phát tấn công. Đoàn thanh niên phát động phát động phong trào mỗi đoàn viên chuẩn bị 2m dây để trói tù binh.
Tối ngày 09 rạng 10/3/1975 đơn vị mới vào được rừng Cà phê, bắt tay vào đào cộng sự có tôi và Hoàng Văn Ngay cùng một hầm, trời gần sáng nghe tiếng súng nổ ở các hướng, tiếng loa địch công bố thỉ thủ, ở trung tâm thị xã tiếng pháo nổ đì đùng, điện vụt tắt. Khi trời sáng hẳn, quân ta ra vào dùng cáng khiêng thương binh ra hướng bên phải đội hình, ở phía trước d4 chưa xung phong được do hỏa lực địch quá mạnh, đang dừng lại ở bãi tha ma ngoài cửa mở. Đến 10h30 xe tăng ta mới đến, Trung đội nhận nhiệm vụ lên xe tăng tiến thẳng vào hướng bãi tha ma, cửa mở. Tổng có 3 xe, mỗi tiểu đội một xe, trên đường vào có 1 xe không may bị sa lầy, 2 xe còn lại tiếp tục tiến, xe tôi đi trước phát hiện và tiêu diệt lô cốt của địch; xe đi sau bị đạn của địch bắn vào thắp pháo, bộ đội nhảy xuống gầm xe ẩn nấp, không may có 2 chiến sỹ bị xích đè hy sinh tại cửa mở, đồng chí Hoàng Văn Ngay cũng ở trên xe đó bị địch bắn bị thương nặng. Trên xe tôi còn Mỹ - Cuộn và tôi, Mỹ cầm b40, Cuộc phóng lựu đạn, xe chạy thẳng qua cổng gác, tôi và Mỹ nhảy xuống xe còn anh Cuộn bị thương ở mang tai vẫn ngồi trên xe, lúc này địch đang loại đội hình ở ngay trước mặt, tôi ngay lập tức nhảy vào bốt gác bắt sống 1 tù binh. Lúc này c2/d4 cũng kịp thời cơ động vào cửa mở nơi chúng tôi đang chiến đấu, nhớ lại lúc ấy anh Mỹ đòi giết tù binh vừa bắt được do còn chiến đấu nên không ai canh chừng được hắn, tôi không đồng ý nên lấy dây rừng đã chuẩn bị để trói hắn lại, nhưng do dây rừng hái về mang theo người lâu ngày nên không còn chắc chắn, bị đứt, may có cái dây súng của hắn rất chắc chắn nên dùng để trói hắn luôn, để hắn ở trong hầm, quàng thêm vào cổ hắn 1 khẩu cối 61 nữa để hắn nằm im, vậy là đảm bảo.
Tôi báo cáo chỉ huy khi c2/d4 phát triển vào bên trong thị xã, giải phóng Buôn – Ma Thuật, trung đội tôi tập trung ở khu gia binh, gần nhà thờ cách ấp Châu Sơn khoảng 1km, củng cố đội hình sẵn sàng đánh địch phản kích. Trong chiều hôm đó (10/3) nghe tin đồng chí Hoàng Văn Ngay đã hi sinh, tôi chạy quay ra cửa mở nhưng tìm không thấy anh, bộ phận vận tải đã đưa anh đi chôn cất. Sang ngày 11/3/1975 ta giải phóng ấp Châu Sơn, nghe dân kể lại hôm trước địch bắt được 02 chiến sỹ của ta rồi thiêu sống, chôn xuống đất rồi dùng máy ủi san bằng, dã man lắm!
Đánh chiếm ấp Bầu Nâu, Tây Ninh – Quốc lộ 22
Sau khi giải phóng Buôn Ma Thuật, đại đội nhận lệnh rút quân ra ngoài rừng Cao su bàn giao thị xã lại cho quân quản. Rời rừng cao su đơn vị hành quân đêm qua nhiều thôn ấp, ra khỏi thị xã đi tắt đường lâm nghiệp, đi được 02 ngày cả tiểu đoàn bổ sung súng đạn, tiếp cận đánh địch ở thị xã Gia Nghĩa, sau khi trinh sát nghe ngóng khả năng địch rút quân, khi tiến vào thị xã địch đã rút hết. Đóng quân quanh thị xã Gia Nghĩa được 2 ngày thì đơn vị nhận quân trang tiếp tục hành quân ra Đầm Ròn chuẩn bị đi đánh địch ở Đà Lạt, hành quân được hai ngày được tin Đà Lạt đã được giải phóng, đơn vị quay lại thị xã Gia Nghĩa – nơi này đã có quân quản chốt giữ, tại đây nghỉ ngơi, đơn vị cũng hết gạo, lấy chút gạo sót lại nấu cháo chia nhau ăn tạm, đợi xe đến đón. Khi xe đến đơn vị lên xe xuống Bình Long – Phước Long, về thị xã Dầu Tiếng, Tây Ninh và đóng quân ở rừng cao su chờ lệnh.
Ngày 09/4/1975 toàn Đại đội đến bến Củi, vượt sông Sài Gòn. Ngày 10/4/1975, Tiểu đoàn sử dụng Đại đội 10 đánh chiếm cầu Bầu Nâu, quốc lộ 22 Tây Ninh, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt, ta thiệt hại lớn, giữ được đến trưa 16/4/1975 tiểu đoàn giao Đại đội 9 chủ công vào tiếp sức. Đại đội vào lúc giữa trưa, Trung đội tôi được giao nhiệm vụ mang 20kg thuốc nổ vào phá cầu, nhưng tiếng súng bộ binh bắn nhau trong cự ly rất gần, không vào được đến chiều tối mới đưa vào. Trung đội thương vong ngày càng nhiều, thiếu tay súng nên phải chốt lại trong ấp, Đại đội đưa cối 60 ly bắn hơn chục quả vào trong ấp chi viện cho Trung đội, đến nửa đêm còn nghe thấy tiếng thương binh địch kêu gần ngoài bờ tre. Sáng hôm sau một quả M79 nổ ngay vị trí anh Vụ và anh Hanh, anh Hanh hy sinh, khi trời sáng hẳn địch dùng trực thăng đổ quân xuống nhằm nhổ chốt thông đường, giao tranh mỗi lúc càng ác liệt, Trung đội từ giữ 5 nhà còn 2 nhà. Đến 16h chiều địch đẩy sở chỉ huy ra bên đường, tôi điện xin quân chi viện từ Tiểu đoàn, nhưng nhận chỉ thị tìm cách mở đường máu đi ra, chờ đến gần tối tôi chỉ huy lệnh cho Trung đội rút ra, trong quá trình giao tranh kịch liệt anh Mỹ bị địch bắn vào đùi, dìu dắt nhau chạy băng qua đường rồi chạy qua bãi quang khoảng 50m thì tới rừng cao su, gặp anh Dính chạy trước quay lại chi viện cho chúng tôi chạy, vừa giao tranh vừa rút nhanh ra, khi chạy qua vòng vây may có đồng chí tên Chánh giữ được cửa mở, rồi hỏa lực của ta từ nhà thờ bắn ra, địch hô to nhưng chúng không dám tiến thêm. Đội hình ra được điểm lại cả Trung đội còn 11 đồng chí, sau đó Trung đội nhận nhiệm vụ bảo vệ trận địa khẩu pháo 85 ly bắn thẳng.
Đội hình đặt chốt trong rừng cao su, đêm đến khi tôi đang rang cơm thì có loạt đạn pháo từ Tây Ninh, dội xuống trận địa, tiếng pháo và tiếng kêu của đồng đội không kịp chạy vào hầm, lúc ấy tôi cũng chưa kịp chạy vào hầm chỉ chui đầu vào cụm khóm dữa. Sau khi loạt pháo ngừng tôi cùng các đồng chí đi kiểm tra, nhiều đồng chí bị thương và có 3 đồng chí ở Trung đội khác hi sinh, sau khi bàn giao thương, tử sỹ cho vận tải, đơn vị tiếp tục ổn định củng cố lại trận địa.
Những ngày sau đó đơn vị di chuyển liên tục, thường xuyên được bổ sung quân số, trang bị. Gần cuối tháng 4/1975 tôi được Trung đoàn rút ra làm cán bộ dự bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng thời được bổ nhiệm làm Đại đội phó Đại đội 9/d6/E148. Chia tay anh em ở lại chúng tôi nước mắt lưng tròng, có đồng chí còn nói “Anh đi chúng em thiếu lòng tin chiến đấu”, bội đội thương nhau lắm, tôi động viên anh em ở lại.
Đánh ấp Bông Trang tham gia hướng Tây Bắc chiến dịch Hồ Chí Minh – giải phóng miền nam thống nhất Tổ quốc.
10h00 ngày 29/04/1975, trận đánh ở ấp Bông Trang diễn ra ác liệt vô cùng “ta quyết chặn, địch quyết thông đường”, đại đội 11 đang chiến đấu giữ chốt, đại đội 10 vào tiếp viện, anh Cư chính trị viên hi sinh, anh đại đội trưởng C10 không dám xung phong, tương quan lực lượng ta và địch mất cân đối, địch dồn lại mỗi lúc một đông, tiến công liên tục. Tiểu đoàn phải sử dụng đến Đại đội 9 làm chủ công vào chiến đấu, lúc 11h đại đội xung phong chiếm ấp Bông Trang, cách ấp Bầu Nâu xình lầy ta củng cố lại trận địa, anh Hậu – chính trị viên bắn b40 không may bị thương ở tay trái rồi đi viện ở tuyến sau. Đại đội tiếp tục chiếm giữ lô cốt và vườn mía đến ngày hôm sau.
Ngày 30/4/1975 sau nhiều đợt tiến công không thông được chốt, chúng tỏa ra khắp nơi mạnh thằng nào, thằng đó chạy lấy thân. Bờ ruộng có lính thủy đánh bộ theo sông Vàm Cỏ ý định đánh vào sườn phải của đơn vị ta. Khi nghe đài phát thanh phát tin Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, lập tức tiếng súng giảm dần rồi lố nhố cờ trắng ra hàng. Phía ấp Bầu Nâu chúng cũng dương cờ trắng đầu hàng, đại đội cử một tổ ra tiếp đón, tù binh hàng mỗi lúc một đông, quân trang bỏ la liệt dọc đường.
Hàng binh thất trận đầu hàng ta phân làm 03 khu đón tiếp, chính sách khoan hồng, viết giấy phóng thích cho hạ sỹ quan, binh sỹ rồi bàn giao cho quân quản tiếp nhận, tôi chở về đơn vị c9. Hành quân ngược về Tây Ninh đơn vị đóng ở trại Bến Kéo, gần chợ Long Hoa, còn tôi khi đến Củ Chi vinh dự được đơn vị cử đến nhà thờ nói chuyện với du kích và nhân dân, hôm ấy lên chiếc xe xích bọc thép do lính Ngụy lái, được du kích và nhân dân tiếp đón rất nhiệt tình.
….
Trải qua nhiều năm trên chiến trường khốc liệt, sống trong mưa bom, bão đạn, thiếu ăn, thiếu mặc, đôi lúc không tránh khỏi có những nỗi sợ bủa vây. Bác Hà Văn Bàn cũng như hàng triệu người lính bộ đội cụ Hồ vẫn luôn bền ý chí, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam – để nước nhà sớm ngày được thống nhất. Bác cũng cảm thán mình may mắn vì được đi, chiến đấu đến ngày thống nhất, buồn thương lắm rất nhiều đồng đội đã nằm lại khắp các chiến trường, dũng cảm hy sinh, đánh đổi máu xương để con cháu, thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Mong mỏi các thế hệ hôm nay và mai sau, đặc biệt là những người trẻ hãy tiếp tục gìn giữ, bảo vệ những thành quả mà thế hệ cha anh đã đánh đổi bằng máu xương mới giành được cho chúng ta hôm nay, phát huy tinh thần, trách nhiệm góp sức xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phát triển phồn vinh, hạnh phúc./.



