Hà Văn Bình
Chàng trai vùng đất Việt Biên và chiến trường Campuchia khốc liệt.

Chàng trai vùng đất Việt Biên và chiến trường Campuchia khốc liệt.
Vào những dịp ngày lễ, tết. Chúng tôi, lại có cơ hội tề tựu, ngồi lại với nhau sau một năm mưu sinh vất vả. Chi bộ chúng tôi, có cả người già, người trẻ, những cây gạo cội đã bảy, tám mươi tuổi. Sau mỗi lần sinh hoạt chi bộ, chúng tôi lại ngồi bên đống lửa, gợi nhắc để các bác, các ông kể lại những câu chuyện ngày xưa. Nào là câu chuyện đói ăn, phải đào củ mài, củ sắn qua bữa, nào là câu chuyện về thời kỳ bao cấp, chiến tranh chiền miên,....
Nhưng những câu chuyện mà chúng tôi cảm thấy cuốn hút và thích thú nhất. Đó là nhưng câu chuyện về chiến tranh, được những người mà chúng tôi gọi là “ người hùng” kể lại.
Bác Vi Văn Đông, người con đất Thái Quan Hóa – Thanh Hóa (nay là xã Trung Hạ-tỉnh Thanh Hóa) cựu chiến binh chiến trường K vừa xoa xoa đùi ( Năm 1985 bác bị giặc gài mìn, mất 1 bên chân) bác vừa hồi nhớ lại những ký ức, kể lại: “ Hồi đó, bác 18 tuổi, đang còn sung sức thanh niên. Nhận được tin phải nhập ngũ để bảo vệ tổ quốc. Cũng không hề biết rằng bản thân sẽ phải đi đánh giặc ở đâu cả. Chỉ biết đi là đi thôi. Sau khi chia tay bố mẹ, anh chị em, bác hành bộ cùng với các anh em khác qua Quan Hóa rồi xuống Sư đoàn 442 ở Nông Cống. Hồi đó là năm 1981. Sau thời gian ở tại Sư đoàn 442 thì bản thân và đồng đội mới biết là phải tiến nam.”
Một hồi bác chựng lại: “nghĩ tới cảnh phải xa nhà, xa quê. Không biết ngày trở về, cũng không kịp nói lời chia tay với gia đình, chòm xóm gì nhiều. Nhưng với khí chất thanh niên Việt Nam dám nghĩ, dám đi thôi”.
Sau khi được giao quân tại Sư đoàn 442, tất cả các chiến sỹ tiến thẳng vào miền Nam, Bác được huấn luyện trinh sát tại C7-D8- Đ4-E9-F302 Mặt trận 479 (sau này đổi thành R560). Ở đây, các chiến được huấn luyện nghiêm khắc, học cách cầm súng, cách cầm mìn, cách tạo bẫy mìn, cách ẩn nấp khi quân địch phát hiện, và những bài học cơ bản về trinh sát...Sau đó, nhận được lệnh, các chiến sĩ ta vượt sông Mê Kông bằng sà lan, đi qua Koang Pu San qua Siêm Riệp, ở đó mới bắt đầu chia quân.
Chúng tôi ngỡ ngàng với những lời kể của bác, tại sao những địa danh trải qua rất nhiều năm rồi, mà bác vẫn nhớ như in, tuy rằng có thể những địa danh này sẽ không đúng âm cho lắm vì theo tiếng của người đồng bào của Campuchia.
Bác kể tiếp: “Sau khi chia quân thì bác được ở lại tỉnh Ôraiviengchay ( Trung đoàn 429 tại biên giới Thái Lan- Camppuchia, hậu cứ T.Rai Piêng Tao). Cuối năm 1982, rút quân về Pha ong để chuẩn bị đánh hậu cứ Osa mếch F92 quân Pôn Pốt. Tháng 5 năm 1983 bác được phong Trung đội trưởng, chỉ đạo đánh cứ Osa Mếch.
Quân Pôn Pốt nó tàn bạo lắm, trẻ em, người già nó không tha bất cứ một ai, hễ cứ thấy người là nó bắn, nó giết. Có nơi nó giết bằng sạch, xác chết chất đống, máu me chảy như suối các cháu ạ.”
Theo lời kể của bác, ở đây các chiến sỹ của ta phải vừa phòng thủ vừa không có nhu yếu phẩm nuôi quân. Cứ điểm thì xa dân, cách người dân tận 50km đến 60km đường bộ. Nên việc sinh hoạt cũng rất bất tiện. Đêm rừng nhiều thú giữ và muỗi. Có hôm không thể ngủ vì tiếng bom và tiếng thú rừng.
Sau một thời gian, ta chiếm đóng và bắt giữ được quân Pôn Pốt, quân ta mới thu được nhu yếu phẩm của họ để nuôi quân ta gồm : Cá hộp, thịt hộp, lương khô, gạo.... ( Nhu yếu phẩm do Mỹ viện trợ cho Pôn Pốt). Các chiến sỹ của ta mới có lương thực, vũ khí đầy đủ.
Chúng tôi hỏi: Vậy, trong thời gian đó, bác có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất không ạ, theo cháu được biết thì thời gian đó bác cũng mới hơn chập 20, đang còn là thanh niên, có câu chuyện tình yêu nào trong thời chiến không?
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Bác khẽ mỉm cưới: “ Thời chiến tranh, loạn lạc ấy thì yêu ai được. Toàn Pôn Pốt, mà người dân thì ở xa lắm. Để mà nói về kỷ niệm bác nhớ nhất thì chỉ có câu chuyện bác cùng anh em đi trinh sát đến đoạn cua gấp khúc thì chạm mặt địch, không kịp rút súng bắn, hai bên đều hoảng, chạy thoát thân”. Sau này nghĩ lại vẫn thấy vừa hoảng vừa hài hước. Còn trong lúc chiến đấu, quân địch ở biên giới Cam - Thái hoảng sợ chạy thoát thân đến nỗi hàng rào cao mét 6 mét 7 vẫn nhảy qua được để thoát thân”.
Đúng là tinh thần của bồ đội cụ hồ, kỷ niệm của bác kể không phải là chiến công này, hoặc chiến công kia mà chỉ là những điều giản đơn nhất, những điều để chúng ta cảm thấy thán phục ý trí quật cường ấy.
Cao điểm 259, ngày 22 tháng 12 năm 1984, Trung đoàn của bác đi trinh sát cách khu vực biên giới 6km, thì bị phục binh gài mìn. Đội của bác đi 7 người thì 3 người hi sinh, còn lại là bị thương nặng. Quân ta phải cử 2 trực thăng để giải vây, đón các chiến sỹ trở về.
Sau trận sinh tử đó, bác được đưa về bệnh viện 7E Mặt trận K79. Bác phải cắt bỏ chân trái do bị thương nặng để bảo toàn tính mạng. Sau đó được chuyển về Bệnh viện 7C Sài Gòn, tiếp tục chuyển về Củ Tri điều trị. Bác điều trị tại trại điều dưỡng thương binh 2 năm và sau đó được phục viên xuất ngũ về quê.
Những vết thương đau đớn da thịt, vết thương về nỗi kinh hoàng quân Pôn Pốt gây ra cho nhân dân Campuchia và chiến sỹ của Việt Nam ta không thể nào nguôi ngoai trong tâm trí người chiến sỹ ấy, mỗi lần nhắc lại, bác lại kể từng chi tiết cho chúng tôi nghe như thể muốn lên án mạnh mẽ hơn nữa sự tàn bạo của Pôn Pốt.
Tâm sự với chúng tôi, bác luôn nhắc nhở: “Các thế hệ đi trước đã đổi lấy hòa bình bằng sương, bằng máu, bằng tất cả niềm tin, hy vọng. Các cháu thời nay, có điều kiện học tập, rèn luyện, phải thực sự cố gắng, cống hiến cho quê hương, đất nước, cho bản làng của ta. Phải luôn đoàn kết, vì đoàn kết mới làm nên việc lớn, nhất là các đồng chí Đảng viên, là đảng viên trẻ tuổi lại càng phải cố gắng”.
Bác chia sẻ: “Được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện, bác được quan tâm chăm sóc sức khỏe, được hỗ trợ làm ăn kinh tết hộ gia đình. Vào các dịp lễ tết, lãnh đạo địa phương luôn quan tâm hỏi han động viên. Đó chính là niềm an ủi động viên đối với bác và gia đình”. Vừa nói bác vừa lật lại những tấm giấy chứng nhận, giấy khen, bằng khen mà bác được ghi nhận. Từ lúc đang ở trong quân ngũ, bác vinh dự 3 năm liền, từ năm 1982 đến 1984 những nhận công nhận chiến sỹ thi đua. Được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1984.
(Câu chuyện dựa trên lời kể của nhân chứng. Các địa danh nhân chứng hồi tưởng lại sẽ không đúng âm, hoặc đã thay đổi vì là tiếng đồng bào địa phương)



