HÀ VĂN KẸP – 14 NGÀY BÒ GIỮA RỪNG SÂU TÌM ĐƯỜNG VỀ ĐƠN VỊ
Anh hùng LLVT nhân dân Hà Văn Kẹp, sinh năm 1942, dân tộc Thái, quê Bá Thước, nhập ngũ năm 1961 và chiến đấu trên chiến trường Lào. Trong trận Noọng Khạng ngày 2-2-1966, bị thương nặng giữa lúc lực lượng rơi vào vòng vây, ông vẫn ở lại bắn chặn để đồng đội rút trước. Sau đó, ông một mình bò suốt 14 ngày giữa rừng trong tình trạng đói khát, thương tích và kiệt sức trước khi được cứu. Bình phục, ông tiếp tục trở lại chiến đấu. Năm 1967, Hà Văn Kẹp được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Anh hùng LLVT nhân dân Hà Văn Kẹp sinh năm 1942, trong một gia đình dân tộc Thái tại bản Hiềng, xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước. Năm 1961, chỉ ba ngày sau khi cưới vợ, người thanh niên miền núi ấy tình nguyện nhập ngũ. Tháng 9-1961, sau khi hoàn thành huấn luyện, ông trở thành chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ trên chiến trường Lào.
Câu chuyện: Từ Noọng Khạng trở về
Đầu năm 1966, tiểu đội trinh sát đặc công của Hà Văn Kẹp nhận một nhiệm vụ đặc biệt: trinh sát đồn Noọng Khạng, cách thị xã Sầm Nưa khoảng 7km về phía tây.
Noọng Khạng là một vị trí quân sự quan trọng. Đồn nằm trên núi cao, có lô cốt, hầm ngầm, sân bay quân sự, nhiều lớp hàng rào thép gai và bãi mìn. Bao quanh là những đồi cỏ tranh trống trải khiến bất kỳ người nào tiếp cận cũng rất dễ bị phát hiện.
Đối phương tại đây có một đại đội được trang bị mạnh, cùng các lực lượng yểm trợ bố trí trên những ngọn đồi xung quanh.
Muốn đánh được đồn, trước hết phải hiểu thật rõ nó.
Hà Văn Kẹp cùng đồng đội ba lần bí mật xâm nhập sâu vào khu vực đồn, quan sát và ghi lại hệ thống bố phòng. Từ những chuyến đi đầy nguy hiểm ấy, tổ trinh sát hoàn thành sơ đồ chi tiết phục vụ kế hoạch tiến công.
Đêm 2-2-1966, Hà Văn Kẹp dẫn đầu một tổ gồm 15 người bí mật tiến vào Noọng Khạng. Theo kế hoạch, lực lượng trinh sát sẽ phá các lô cốt tiền tiêu, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực tiến công.
Khoảng 4 giờ sáng, những tiếng nổ dữ dội vang lên. Nhiều công sự và lô cốt bị phá sập.
Nhưng tình huống bất ngờ xảy ra.
Lực lượng tiếp ứng của ta bị lạc đường và chưa thể đến đúng thời điểm hiệp đồng. Đối phương nhanh chóng tăng viện và tổ chức phản kích. Pháo, cối từ các điểm cao xung quanh dồn dập bắn xuống Noọng Khạng.
Tổ chiến đấu của Hà Văn Kẹp rơi vào tình thế hết sức khó khăn.
Sau nhiều giờ chiến đấu, lực lượng bị thương vong, đạn dược gần cạn. Nhận thấy không thể tiếp tục kéo dài trận đánh, Hà Văn Kẹp ra lệnh cho đồng đội rút lui để bảo toàn lực lượng.
Đúng lúc ấy, một quả đạn cối phát nổ. Hà Văn Kẹp và chiến sĩ Vi Công Mậu cùng bị thương.
Trong tình thế nguy cấp, ông vẫn nghĩ đến đồng đội trước. Hà Văn Kẹp ra lệnh cho Hà Văn Nê và Phạm Duy dìu Vi Công Mậu rút trước, còn mình ở lại bắn chặn.
Khi đồng đội đã rời đi, người chiến sĩ bị thương nặng bắt đầu cuộc hành trình mà sau này trở thành một trong những ký ức đặc biệt nhất của cuộc đời ông.
Hà Văn Kẹp bò khỏi vòng vây, rồi kiệt sức và bất tỉnh gần một ngày đêm.
Khi tỉnh lại, xung quanh đã vắng tiếng súng. Không bản đồ, không người dẫn đường, cơ thể đầy thương tích, ông chỉ còn biết xác định phương hướng bằng cảm giác rồi hướng về đại ngàn, tìm đường trở lại đơn vị.
Ngày nối ngày trôi qua.
Đói. Khát. Vết thương ngày càng đau đớn.
Đến ngày thứ tư, vết thương ở vùng mông bị nhiễm trùng khiến ông sốt cao và nhiều lần mê man. Theo lời kể được cung cấp, khi tỉnh lại và kiểm tra vết thương, ông phát hiện nơi đó đã bị dòi xâm nhập.
Nhưng Hà Văn Kẹp vẫn tiếp tục.
Không thể đi, ông bò.
Mỗi đoạn đường vượt qua là một cuộc đấu tranh với đau đớn, đói khát và kiệt sức. Giữa núi rừng mênh mông, ý nghĩ phải sống, phải trở về với đồng đội trở thành động lực giúp ông tiếp tục tiến lên.
Mười bốn ngày sau trận đánh, Hà Văn Kẹp đã gần như cạn sức. Ông ngất đi trong một bụi cây ven đường.
May mắn, người dân phát hiện và đưa ông đến trạm xá của một đơn vị thuộc Quân khu Tây Bắc.
Ông đã trở về.
Điều đáng khâm phục là sau khi được cứu chữa, Hà Văn Kẹp không rời chiến trường. Ông tiếp tục tham gia chiến đấu, cùng các lực lượng hoạt động tại Hủa Phăn, Luông Nậm Thà, Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng và nhiều địa bàn khác cho đến ngày toàn thắng.
Với những chiến công và tinh thần chiến đấu đặc biệt ấy, Hà Văn Kẹp được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất năm 1966 và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967. Ông còn được Đảng Nhân dân Cách mạng và Chính phủ Lào tặng Huân chương Ít Xa La hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Cuộc đời Hà Văn Kẹp để lại một câu chuyện giản dị mà phi thường: ba ngày sau ngày cưới lên đường nhập ngũ, giữa chiến trường bị thương nặng vẫn ở lại chặn địch cho đồng đội rút, rồi một mình bò suốt 14 ngày giữa rừng sâu để tìm đường trở về.



