HÀ VĂN KẸP
Ông Hà Văn Kẹp, sinh năm 1942, trong một gia đình người dân tộc Thái ở bản Hiềng, xã Kỳ Tân, Bá Thước. Năm 1961, cưới vợ được đúng 3 ngày, ông tình nguyện xung phong lên đường nhập ngũ giết giặc. Tháng 9/1961 kết thúc khóa huấn luyện, ông thuộc biên chế bộ đội tình nguyện sang giúp nước bạn Lào chống Mỹ và tay sai. Chiến trường và những trận đánh liên miên kéo ông Kẹp đi hết cả cuộc chiến.
Đầu năm 1966, tiểu đội của Hà Văn Kẹp được giao nhiệm vụ trinh sát đồn Noọng Khạng. Đây là vị trí chiến lược quan trọng, nằm cách thị xã Sầm Nưa 7km về phía tây là nơi chốt giữ con đường tiến quân của quân ta tiến đánh đồn Pha Thí. Do vị trí Noọng Khạng nằm trên núi cao, được xây dựng kiên cố, gồm có hệ thống lô cốt, hầm ngầm, sân bay quân sự, xung quanh bao bọc nhiều lớp thép gai, bãi mìn, và là vùng đồi cỏ tranh trống trải nên việc tiếp cận của ta gặp rất nhiều khó khăn.
Lực lượng của địch bao gồm một đại đội lính Vàng Pao thiện chiến, được trang bị vũ khí tối tân, có cố vấn Mỹ và Thái Lan trợ giúp. Ngoài ra còn lực lượng yểm trợ đóng trên các ngọn đồi xung quanh và mạng lưới do thám nằm trong các bản người dân tộc Mông, rải rác khắp vùng.
Sau 3 lần xâm nhập vào tận đồn địch, tiểu đội trinh sát đặc công của ông đã vẽ đầy đủ chi tiết bố phòng của địch. Đêm 2/2/1966, ông dẫn đầu một tổ 15 người bí mật xâm nhập đồn Noọng Khạng. Theo kế hoạch, sau khi trinh sát cho nổ mìn lô cốt tiền tiêu thì quân chủ lực sẽ hỗ trợ công đồn. 4h sáng, hàng loạt tiếng nổ long trời, lở đất cùng với những mảng tường xây đất đá bị hất tung lên, nhiều lô cốt của địch bị phá sập hoàn toàn.
Tuy nhiên, do lạc đường nên bộ đội ta chưa kịp tiếp ứng theo như kế hoạch hiệp đồng tác chiến. Địch tăng quân tiếp viện phản công dữ dội. Pháo cối từ các ngọn đồi xung quanh dồn đập nã về phía đồn Noọng Khạng. Sau nhiều giờ chiến đấu không cân sức, lực lượng ta hy sinh và bị thương nhiều, đạn dược đã cạn nên ông Kẹp ra lệnh cho các chiến sĩ của mình rút lui để bảo toàn lực lượng.
Đúng lúc đó thì một quả đạn cối bay đến nổ tung. Ông Kẹp và một chiến sĩ của mình là ông Vi Công Mậu bị mảnh đạn cối văng trúng vào người và bị mất máu nhiều (sau này ông Mậu đã viết xác nhận cho ông Kẹp). Lo cho đồng đội, ông Kẹp ra lệnh cho chiến sĩ Hà Văn Nê và Phạm Duy dìu Vi Công Mậu ra trước còn mình quyết định ở lại bắn chặn quân địch. Bị thương nặng, ông vẫn bò và trốn thoát được vòng vây quân địch, sau đó kiệt sức nằm mê man bất tỉnh gần một ngày đêm. Tỉnh dậy khi quân địch đã rút, ông xác định phương hướng bằng cảm tính rồi cứ nhằm đại ngàn mà bò tìm đường về đơn vị trong cơn đói, khát và nhiều vết thương trên người. Ngày thứ 4, vết thương ở mông nhiễm trùng, ông sốt mê man và bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, vết thương ở mông đau và ngứa không chịu nổi ông lấy ngón tay sờ vào chỗ vết thương thì móc phải một nắm giòi.
Bò lết đến ngày thứ 14, ông Kẹp đã quá kiệt sức, nằm ngất trong bụi cây ven đường và được người dân phát hiện đưa vào trạm xá của một đơn vị bộ đội thuộc Quân khu Tây Bắc. Sau khi được điều trị vết thương, ông tiếp tục tham gia những trận đánh ác liệt, giải phóng tỉnh Hủa Phăn, tiến sang Luông Nậm Thà, xuống Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng... cho đến ngày toàn thắng.
Với những chiến công của mình ông Hà Văn Kẹp được Nhà Nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1967), Huân chương Chiến công hạng nhất (năm 1966), được Đảng Nhân dân Cách mạng và Chính phủ Lào tặng Huân chương Ít Xa La hạng nhất cùng nhiều huy hiệu cao quý khác…



