HÀ VĂN QUANG – BẢN HÙNG CA MÙA XUÂN ĐẠI THẮNG VÀ NGHỊ LỰC NGƯỜI BỆNH BINH
Năm 1975, giữa thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết định với Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đòi hỏi sự dồn sức tối đa của toàn dân tộc cho ngày toàn thắng, người thanh niên Hà Văn Quang ở tuổi 22 – độ tuổi phơi phới sức trẻ, dạt dào nhiệt huyết và tràn đầy lý tưởng cách mạng. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông đã gác lại những dự định riêng, tạm biệt gia đình và quê hương thân thương để hăng hái ghi danh lên đường nhập ngũ, mang theo hoài hoài dâng trọn tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Khoác lên mình bộ quân phục màu lá ngụy trang, người chiến sĩ Hà Văn Quang khẩn trương bước vào đợt huấn luyện thao trường vô cùng khắt khe. Dưới cái nắng cháy da của thao trường và những buổi tập luyện dã chiến đầy gian khổ, ông cùng đồng đội đã tích cực rèn luyện kỹ chiến thuật, tôi luyện cho mình một ý chí sắt đá và bản lĩnh chiến đấu vững vàng. Sau khóa huấn luyện, ông cùng đơn vị hối hả khoác ba lô, hừng hực khí thế tiến về các mặt trận gian khó nơi tiền tuyến, vinh dự đóng góp sức mình vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, làm nên Ngày Đại thắng Mùa Xuân 30/4/1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Suốt 5 năm cống hiến liên tục trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam (1975 – 1980), cuộc đời người lính Hà Văn Quang gắn liền với những năm tháng chiến đấu, phục vụ chiến đấu và bảo vệ chủ quyền biên giới gian khổ. Do điều kiện sinh hoạt, hành quân vượt núi băng rừng trong môi trường khắc nghiệt và làm nhiệm vụ dưới thời tiết sương muối, mưa lũ gay gắt, sức khỏe của ông đã suy giảm nặng nề, để lại căn bệnh mạn tính theo ông suốt đời. Dù thể trạng suy yếu vì bệnh tật, ông vẫn kiên cường bám trụ đơn vị, giữ vững phẩm chất người lính Cụ Hồ và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Ký ức sâu đậm nhất trong lòng ông Quang qua 5 năm cống hiến nơi quân ngũ là những chuyến hành quân dằng dặc đè nặng trên vai chiếc ba lô, những ca trực gác đêm giữa cái lạnh xé da của núi rừng, và những bữa cơm vội vã đơm chung bên bếp dã chiến. Trên hết, đó là tình đồng chí, đồng đội kề vai sát cánh – sự gắn bó thắm thiết khi sẵn sàng nhường nhau từng tấm nilon che mưa, từng ngụm nước ấm hay chia sẻ từng viên thuốc giữa lòng hầm chật hẹp. Tình cảm thiêng liêng ấy chính là điểm tựa tinh thần vững chắc giúp ông vượt qua muôn vàn thử thách và cơn đau bệnh tật nơi tuyến đầu.
Đến năm 1980, sau 5 năm dâng trọn tuổi trẻ dạn dẫy nơi thao trường, chiến trường và củng cố quốc phòng, cựu chiến binh Hà Văn Quang nhận quyết định xuất ngũ trở về với cuộc sống đời thường dưới chế độ bệnh binh.
Hành trang trở về quê nhà của ông không chỉ là chiếc ba lô sờn vai, bộ quân phục bạc màu thời gian và chiếc mũ cối đã cùng ông đi qua những ngày tháng gian khổ, mà còn là bản lĩnh kiên cường, nghị lực vượt qua bệnh tật của người lính Cụ Hồ cùng niềm tự hào sâu sắc về 5 năm hoa lửa đã dâng trọn cho độc lập, tự do và sự bình yên của Đất nước.



