Hà Văn Vấn – Người lính dân tộc Tày lái xe trên đường Trường Sơn
Hà Văn Vấn sinh năm 1944, là người dân tộc Tày, quê xã Nông Xạ, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Thái, nay thuộc xã Nông Hạ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Năm 1965, ông nhập ngũ, được biên chế vào Đoàn vận tải 559 và học lái xe 3 tháng tại Trung đoàn xe 265. Trên tuyến Trường Sơn, ông vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men; có những tháng chạy tới 28–30 đêm, mỗi đêm 100–120km. Ông đã chuyển gần 1.500 tấn hàng, nhiều lần cứu xe, cứu hàng dưới bom đạn và được phong tặng Anh hùng LLVT nhân dân ngày 1/10/1971.
Năm 1965, chàng trai Tày Hà Văn Vấn rời quê hương lên đường nhập ngũ. Sau ba tháng học lái xe tại Trung đoàn xe 265, ông trở thành người lính lái xe của Đoàn vận tải 559, bắt đầu những năm tháng gắn bó với con đường Trường Sơn.
Cung đường mà Hà Văn Vấn cùng đồng đội đảm nhiệm có những đoạn vô cùng ác liệt, trong đó có tuyến Đường 9 – Khe Sanh và các tuyến sang Lào. Những chuyến xe phải đưa vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men đến chiến trường. Có những thời điểm lương thực thiếu thốn đến mức người lính phải ăn măng rừng thay cơm. Nhưng gian khổ không làm người lái xe trẻ tuổi chùn bước.
Đặc biệt, giai đoạn 1967–1970, khi máy bay Mỹ tăng cường đánh phá các tuyến vận tải, Hà Văn Vấn liên tục vượt cung, vượt chặng. Có tháng ông chạy tới 28, thậm chí 30 đêm, mỗi đêm từ 100 đến 120km. Tổng cộng, ông đã vận chuyển gần 1.500 tấn hàng ra mặt trận. Sau mỗi chuyến, ông lại bảo dưỡng, cất giấu xe cẩn thận để sẵn sàng cho chuyến tiếp theo.
Chiếc xe đối với ông không chỉ là phương tiện vận chuyển. Trong bom đạn Trường Sơn, giữ được xe cũng chính là giữ được hàng, giữ được sức chiến đấu cho tiền tuyến.
Có lần xe của Hà Văn Vấn bị trúng bom. Thay vì bỏ xe chạy tránh nguy hiểm, ông lao vào cứu xe, cứu hàng. Tài liệu về các Anh hùng dân tộc thiểu số ghi nhận, mỗi lần xe bị trúng đạn bốc cháy, ông đều xông vào lửa để cứu phương tiện và hàng hóa; những tình huống xe chết máy giữa trọng điểm, bị bắn thủng lốp hay gặp sự cố đều được ông bình tĩnh xử lý.
Ông còn được đồng đội nhớ đến bởi một tinh thần rất vì đồng đội. Khi xe của mình và xe bạn cùng bị thủng lốp, ông lấy ngay lốp dự phòng của xe mình cho đồng đội chạy trước, rồi tự vá lốp xe mình để tiếp tục hành quân. Có những đêm sau khi trả hàng, ông còn quay lại kéo bốn, năm xe đồng đội bị mắc kẹt hoặc hỏng hóc ra khỏi trọng điểm. Chính vì vậy, đồng đội gọi xe của ông bằng một cái tên rất giản dị: “chiếc xe ân tình”.
Nhưng chiến tranh cũng để lại những mất mát không thể bù đắp.
Rạng sáng một ngày năm 1968, chiếc xe do Hà Văn Vấn điều khiển chở 7 thương binh và một y tá trên đường về đơn vị thì trúng bom bi. Tám người trên xe hy sinh, riêng ông may mắn sống sót. Cũng trong khoảng thời gian ấy, em trai ruột của ông là Hà Văn Tý, một chiến sĩ vận tải, hy sinh tại chiến trường miền Nam. Hai mất mát liên tiếp càng khiến người lính Tày thêm quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.
Điều đáng khâm phục là sau những lần đối diện với cái chết, Hà Văn Vấn vẫn tiếp tục ngồi vào buồng lái.
Ông từng được cấp trên dự kiến đưa ra miền Bắc để đào tạo cán bộ nguồn, nhưng ông không muốn rời tuyến khi còn có thể phục vụ. Một tư liệu về ông ghi lại tinh thần ấy bằng câu nói quen thuộc của người lính vận tải Trường Sơn: “Yêu xe như con, quý xăng như máu.”
Những năm tháng trên Trường Sơn đã đem lại cho Hà Văn Vấn nhiều phần thưởng: 4 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 lần danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng. Ngày 1/10/1971, khi mới 27 tuổi, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; khi ấy ông là Thượng sĩ, chiến sĩ lái xe Đại đội 1, Tiểu đoàn 54, Binh trạm 41, Đoàn 559.
Sau chiến tranh, những năm tháng bom đạn vẫn để lại dấu vết trên cơ thể người lính. Nhưng điều đáng nhớ ở Hà Văn Vấn không chỉ là những thành tích được ghi bằng con số. Đó là hình ảnh một người lính Tày ngồi sau tay lái giữa Trường Sơn, nhiều lần đối diện với bom đạn, sẵn sàng cứu xe, cứu hàng và giúp đồng đội rồi mới tiếp tục hành quân.



