HAI BÀ TRƯNG: CUỘC KHỞI NGHĨA MỞ ĐẦU THỜI KỲ CHỐNG BẮC THUỘC
Hai chị em ở Mê Linh dựng cờ khởi nghĩa, lấy được 65 thành trong ba năm giữ nền tự chủ.

Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái Lạc tướng huyện Mê Linh (nay thuộc huyện Mê Linh, Hà Nội), mẹ là bà Man Thiện. Sử cũ không ghi chính xác năm sinh của hai bà, một số tài liệu địa phương dẫn năm 14 sau Công nguyên nhưng đây không phải con số được giới sử học thống nhất. Trưng Trắc lấy Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng Đan Phượng, Hà Nội ngày nay).
Đầu thế kỷ I, nhà Đông Hán đặt ách cai trị hà khắc lên đất Giao Chỉ. Thái thú Tô Định nổi tiếng tham tàn, và theo Đại Việt sử ký toàn thư, việc Thi Sách bị Tô Định giết là nguyên cớ trực tiếp khiến Trưng Trắc cùng em gái phát động khởi nghĩa vào tháng 3 năm 40 (có tài liệu ghi tháng 2 âm lịch). Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng được các Lạc tướng và dân chúng nhiều quận hưởng ứng.
Quân khởi nghĩa đánh chiếm trị sở Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh), buộc Tô Định phải cải trang bỏ chạy về quận Nam Hải. Sử chép Hai Bà lấy được 65 thành trì ở vùng Lĩnh Nam. Sau thắng lợi, Trưng Trắc lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh, miễn thuế cho dân hai năm liền.
Nền tự chủ này tồn tại được khoảng ba năm. Năm 42, nhà Hán cử Mã Viện, viên tướng già dày dạn trận mạc, đem đại quân sang đàn áp. Hai bên giao tranh ở vùng Lãng Bạc, quân Trưng Vương dần yếu thế trước lực lượng đông và thiện chiến hơn, phải lui về giữ Cấm Khê (vùng Ba Vì, Hà Nội ngày nay).
Tháng 2 hoặc tháng 3 năm 43, quân Mã Viện đánh tan lực lượng còn lại của Hai Bà. Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều truyền thuyết dân gian ghi rằng Trưng Trắc và Trưng Nhị đã trầm mình xuống sông Hát (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) để giữ khí tiết, không để rơi vào tay giặc. Cuộc khởi nghĩa kết thúc, đất nước trở lại thời kỳ Bắc thuộc kéo dài nhiều thế kỷ sau đó.
Ngày nay, đền Hai Bà Trưng ở thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh vẫn là nơi tổ chức lễ hội hằng năm vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch, còn đền Đồng Nhân bên bờ sông Hồng (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) thờ vọng hai bà từ thời Lý. Tên hai bà được đặt cho quận Hai Bà Trưng ở Hà Nội và nhiều con đường, trường học khắp cả nước.



