Hai Bà Trưng – hai nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc
Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, cha là Hùng Định, Lạc tướng Mê Linh, mẹ là Trần Thị Đoan. Sử nước ta đều viết bà Man Thiện là mẹ của Hai Bà Trưng, quê ở phía dưới ngã ba Bạch Hạc. Hai Bà sinh tại xóm Đường, trang Cổ Lai. Hùng Định mất sớm, bà Đoan nuôi dạy con gái theo tinh thần thượng võ, mượn những người tài giỏi về dạy văn võ cho hai con gái.
Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, cha là Hùng Định, Lạc tướng Mê Linh, mẹ là Trần Thị Đoan. Sử nước ta đều viết bà Man Thiện là mẹ của Hai Bà Trưng, quê ở phía dưới ngã ba Bạch Hạc. Hai Bà sinh tại xóm Đường, trang Cổ Lai. Hùng Định mất sớm, bà Đoan nuôi dạy con gái theo tinh thần thượng võ, mượn những người tài giỏi về dạy văn võ cho hai con gái.
Trưng Trắc lớn lên là người tài sắc, kết duyên cùng Thi Sách là con viên Lạc tướng Chu Diên.
Đất nước bị nô lệ vào nhà Hán, từ năm Kiến Vũ (nhà Hán) năm thứ 10 (năm 34), khi Tô Định sang làm Thái thú Giao Chỉ (Quận Giao Chỉ thời Hán là Bắc Bộ ngày nay có 10 huyện là Liên Lâu, An Định, Câu Lậu, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên, Mê Linh, Chu Diên) thì sự tham lam, tàn bạo của hắn lên tới cực điểm. Nhân dân lầm than cơ cực không biết đâu mà kể, ngay Mã Viện cũng phải nói: “Tô Định giương mắt lên vì tiền”. Nhân dân Giao Chỉ uất hận, nhiều lần chuẩn bị khởi nghĩa nhưng đều bị Tô Định dìm trong biển máu. Thi Sách huyện trưởng huyện Chu Diên (gồm các vùng thuộc Hà Đông - Hà Nội và các tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Bình, một phần Nam Hưng Yên ngày nay) cùng với em trai là Thi Huy và nhiều người khác chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng âm mưu bại lộ, Thi Sách, Thi Huy cũng nhiều người khác bị Tô Định giết chết.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Ảnh minh họa
Nợ nước thù nhà chồng chất, tháng 2 năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở cửa sông Hát. Hát Môn chảy từ cửa sông Hồng ra, nay phù sa bồi lấp, sông Hát chỉ còn là một cái lạch nhỏ và vạt đầm hồ có tên là sông Cùng, bến Chúa, chỉ từ cầu Phùng trở xuống mới thành sông gọi là sông Đáy.
Khi đó ở khắp Giao Chỉ cũng có hàng chục cuộc khởi nghĩa đang âm ỉ, Hai Bà gửi hịch khởi nghĩa đi khắp các quận huyện, được hàng chục thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa như ở Hưng Yên có Trần Thị Mã Châu ở xã Quảng Châu (Tiên Lữ), Trần Lữu ở trang Đào Đầu (Tiên Lữ), Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Hải Dương, Lê Chân ở Hải Phòng, Đỗ Năng Tế ở Hà Đông, Sơn Tây, Lê Thị Hoa ở Thanh Hóa, Thiều Hoa ở Phú Thọ, Vũ Thị Thục ở Sơn Nam... đã nhất tề kéo quân về Mê Linh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà. Ở Nhật Nam Cửu Chân và ở cả Hợp Phố (trên đất Trung Quốc, cũng có những cuộc khởi nghĩa. Hai Bà lập đàn thề ở Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội) tế cáo trời đất với lời thề:
Một, xin rửa sạch nước thù,
Hai, xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng.
Ba, kéo oan ức lòng chồng,
Bốn, xin vẹn vẹn sở công lênh này.
(Thiên Nam ngữ lục)
Tháng 2 năm 40, Hai Bà chỉ huy các tướng lĩnh đưa quân từ cửa sông Hát đi hạ các thành trì của giặc, đồng thời các thủ lĩnh nghĩa quân khác cũng hạ thành giặc ở địa phương như Lã Văn Ất hạ thành Kênh Cầu (Văn Giang) sau đó hợp với đại quân của hai bà đến phá thành Luy Lâu của Tô Định (vùng Dâu, huyện Thuận Thành). Tô Định chống cự không nổi phải bỏ cả ấn tín, vàng bạc châu báu, vặt râu, thay áo, chui qua lỗ chó chui lần mò trốn về Nam Hải (Quảng Đông).
Dẹp xong giặc, bà Trưng Trắc lên làm vua đóng đô ở Mê Linh, xá thuế cho dân 2 năm, cắt đặt các tướng chia quân đi chiếm giữ những nơi hiểm yếu.



