Hai Bà Trưng (năm 40 – 43 SCN)
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40–43) là mốc sơn chói lọi trong lịch sử Việt Nam khi hai nữ anh hùng phất cờ đánh đuổi quân Đông Hán, lật đổ ách đô hộ, giành lại độc lập dân tộc và xưng vương dựng nước trong suốt 3 năm.
Tích tụ phẫn uất và ngọn cờ khởi nghĩa (Năm 40):
Thái thú Tô Định cai trị tàn bạo, bóc lột dã man và gieo rắc nhiều căm hờn. Đặc biệt, sau khi Thi Sách (chồng của Trưng Trắc) bị Tô Định giết hại, Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị) đã phất cờ khởi nghĩa tại Hát Môn (nay thuộc Hà Nội) với lời thề vang dội lịch sử.
Tiến quân như vũ bão và giải phóng Giao Chỉ:
Từ Hát Môn, nghĩa quân nhanh chóng hạ thành Luy Lâu (trung tâm chính trị của nhà Hán tại Giao Chỉ), sau đó đánh chiếm Mê Linh, Cổ Loa. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đồng loạt hưởng ứng. Tô Định hoảng sợ, phải cắt tóc, cạo râu, cải trang trốn về Trung Quốc. Trong thời gian ngắn, nghĩa quân thu hồi 65 thành trì, giải phóng toàn bộ lãnh thổ.
Trưng Vương xưng đế và dựng nền độc lập (Năm 40 – 42):
Sau chiến thắng, Trưng Trắc được tôn làm vua (Trưng Vương), đóng đô tại Mê Linh. Bà tiến hành phong thưởng cho các tướng lĩnh, miễn thuế 3 năm cho nhân dân, thiết lập bộ máy chính quyền độc lập tự chủ trong suốt 3 năm.
Kháng chiến chống quân xâm lược Mã Viện (Năm 42 – 43):
Mùa xuân năm 42, vua Hán sai Phục波 Tướng quân Mã Viện chỉ huy lực lượng tinh nhuệ tiến sang xâm lược. Hai Bà Trưng trực tiếp chỉ huy quân sĩ quyết chiến tại Lãng Bạc, sau đó lui về giữ Cấm Khê (Thạch Thất, Hà Nội) để tiếp tục kháng cự bền bỉ trước sức mạnh vượt trội của địch.
Hai Bà Trưng hy sinh tại sông Đáy (Tháng 3 năm 43):
Thế giặc quá mạnh, lực lượng suy giảm, để giữ trọn khí tiết và không rơi vào tay địch, Hai Bà Trưng đã gieo mình xuống dòng Hát Giang (sông Đáy) tự thuẫn. Cuộc kháng chiến sau đó vẫn kéo dài thêm một thời gian trước khi bị đàn áp hoàn toàn.


