Hai Bà Trưng – Ngọn Lửa Tự Do
Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị là nữ anh hùng dân tộc, đã nâng cờ khởi nghĩa đánh đuổi giặc Hán đô hộ, giải phóng đất nước, được nhân dân tôn làm Trưng Nữ Vương. Hai bà chiến đấu dũng cảm, bất khuất, hy sinh anh dũng, trở thành biểu tượng vĩ đại của lòng yêu nước và ý chí tự do của dân tộc Việt Nam.

Hơn hai nghìn năm trước, trên đất nước Việt Nam ta, lúc ấy còn gọi là nước Nam Việt, nhân dân ta sống dưới sự đô hộ của nhà Hán phương Bắc. Chúng đặt ra thuế khóa nặng nề, cướp bóc của cải, ngược đãi người dân, khiến ai cũng căm phẫn và mong muốn có ngày giành lại tự do.
Lúc ấy, ở quận Mê Linh, có hai chị em gái tài sắc và kiên cường: chị tên Trưng Trắc, em tên Trưng Nhị. Cha mẹ dạy từ nhỏ, hai chị em không chỉ giỏi giang trong việc nhà mà còn tập võ, học binh pháp, lòng luôn nghĩ đến dân, đến nước. Nhìn thấy nhân dân chịu bao đau khổ dưới chân giặc, hai bà đau như cắt lòng, thề sẽ đứng lên cứu nước.
Khi chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách bị kẻ thù giết hại vì không chịu khuất phục, nỗi đau riêng hòa với nỗi đau chung của cả dân tộc, hai bà quyết định khởi nghĩa. Năm 40 SCN, tại đất Mê Linh, hai bà nâng cao ngọn cờ nghĩa, kêu gọi nhân dân cùng đứng lên đánh đuổi giặc Hán. Ngay lập tức, hàng nghìn người dân từ khắp nơi kéo đến tham gia nghĩa quân – nông dân bỏ cuốc, người thợ bỏ nghề, cả phụ nữ cũng sẵn sàng cầm vũ khí, theo hai bà ra trận.
Ngày ra trận, hai bà mặc áo giáp vàng, cưỡi trên lưng voi chiến, dẫn đầu nghĩa quân tiến về phía kẻ thù. Dưới sự chỉ huy tài giỏi của hai bà, nghĩa quân từ trận này sang trận khác liên tục thắng lợi. Từ Mê Linh, họ tiến ra Cổ Loa, rồi đánh chiếm các quận huyện khác. Ý chí giành tự do khiến nghĩa quân dũng cảm vô cùng, dù vũ khí thô sơ hơn giặc, nhưng lòng yêu nước mạnh hơn mọi thứ. Chỉ trong thời gian ngắn, hầu hết các quận huyện ở Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam đều được giải phóng. Kẻ thù hoảng sợ, chạy trốn về nước.
Sau khi đánh đuổi giặc, nhân dân ta lập lên hai bà làm Vương, tôn xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô tại Mê Linh. Đó là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta, phụ nữ được cầm quyền cai trị đất nước – một điều vô cùng khó khăn ngay cả ở các nước láng giềng lúc bấy giờ. Hai bà trị nước rất nhân từ, chăm lo cho dân, xây dựng lại quê hương sau bao năm chiến tranh, mọi người đều kính yêu.
Nhưng nhà Hán không bao giờ từ bỏ ý định xâm lược nước ta. Năm 42 SCN, họ cử tướng Mã Viện dẫn hàng vạn quân sang xâm lược trở lại. Lần này, giặc đến với lực lượng mạnh mẽ, vũ khí tốt hơn gấp nhiều lần. Hai bà vẫn dũng cảm lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu đến cùng, giành được nhiều trận thắng, nhưng vì lực lượng chênh lệch quá lớn, nghĩa quân cuối cùng thất bại.
Không chịu khuất phục trước giặc, hai bà Trưng đã anh dũng hy sinh, giữ trọn tấm lòng trung với nước, tiết nghĩa với dân. Ngọn cờ của hai bà có thể đã rơi, nhưng ngọn lửa mà hai bà đã thắp lên thì không bao giờ tắt. Từ đó, bao thế hệ sau này – từ Bà Triệu, Lý Chiêu Hoàng đến những người con gái trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ – đều noi gương hai bà, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc.



