Hai Bà Trưng – Niềm tự hào của non sông Việt Nam
Hai Bà Trưng là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, thuộc dòng dõi Hùng Vương. Trước ách cai trị tàn bạo của nhà Đông Hán và thù sâu khi ông Thi Sách (chồng bà Trưng Trắc) bị thái thú Tô Định sát hại, hai bà đã phất cờ khởi nghĩa tại cửa sông Hát vào mùa xuân năm 40 SCN. Nghĩa quân nhanh chóng quét sạch quân thù, giải phóng 65 huyện thành. Bà Trưng Trắc lên ngôi vua (Trưng Nữ Vương), lập nên một chính quyền tự chủ độc lập. Hai Bà là biểu tượng bất diệt cho tinh thần yêu nước, bất khuất của phụ nữ và dân tộc Việt Nam.
Vào thế kỷ thứ I sau Công nguyên, mảnh đất Âu Lạc tươi đẹp chìm trong những ngày tháng đen tối nhất dưới ách đô hộ nghiệt ngã của nhà Đông Hán. Bọn quan lại phương Bắc, cầm đầu là tên Thái thú Tô Định. Hắn là một kẻ vô cùng tham lam, tàn bạo và độc ác. Chúng thẳng tay điên cuồng vơ vét sản vật, ép người dân phải lặn xuống biển sâu đầy cá mập để mò ngọc trai, lùng sục vào rừng thẳm đầy thú dữ săn voi, tê giác để cống nộp. Tiếng khóc oán than vang vọng khắp núi rừng, cuộc sống của nhân dân ta cực khổ trăm bề.
Bấy giờ, tại vùng đất Mê Linh, có hai chị em sinh đôi tên là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Họ là con gái của vị Lạc tướng dòng dõi Vua Hùng, được nuôi dạy bởi người mẹ hiền từ nhưng kiên cường là bà Man Thiện. Từ nhỏ, hai chị em không chỉ sở hữu nhan sắc kiều diễm mà còn nổi tiếng khắp vùng nhờ võ nghệ cao cường, thông minh và có chí khí quật cường. Lớn lên, Trưng Trắc bén duyên cùng Thi Sách, con trai Lạc tướng vùng Chu Diên. Đôi uyên ương cùng chung chí hướng yêu nước, họ bí mật liên kết với các hào kiệt khắp nơi, chuẩn bị binh mã chờ ngày nổi dậy giành lại non sông.
Sự lớn mạnh của lực lượng nghĩa quân khiến lòng dạ Tô Định không yên. Để đè bẹp ý chí kháng chiến của người Việt, tên thái thú độc ác đã lập mưu hèn hạ, bắt và sát hại Thi Sách.
Tô Định nghĩ rằng cái chết của Thi Sách sẽ khiến mọi người khiếp sợ mà chùn bước. Nhưng hắn đã nhầm! Hành động tàn bạo ấy như giọt nước tràn ly, biến nỗi đau thương thành ngọn lửa căm thù ngùn ngụt.
Mùa xuân năm 40 sau Công nguyên, tại cửa sông Hát (Hát Môn, nay thuộc Phúc Thọ, Hà Nội), Hai Bà Trưng lập đàn tế trời đất, chính thức phất cờ khởi nghĩa. Trong buổi lễ xuất quân trang nghiêm, bà Trưng Trắc mặc giáp phục lộng lẫy, dũng mãnh bước lên bành voi chiến, tay vung gươm bạc và dõng dạc đọc lời thề lịch sử vang vọng cả ba quân:
"Một xin rửa sạch quốc thù,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này."
Tiếng trống đồng rền vang như sấm dậy, hòa cùng tiếng hò reo vang trời chuyển đất của hàng vạn nghĩa quân. Cánh quân của các nữ tướng kiệt xuất như Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn từ khắp ngả đường ào ào kéo về hội tụ.
Đoàn quân khởi nghĩa tiến đi như bão táp. Quân ta nhanh chóng đánh hạ thành Mê Linh, rồi thừa thắng xông lên đập tan quân địch tại thành Cổ Loa. Không dừng lại ở đó, Hai Bà Trưng thúc quân tiến thẳng xuống đại bản doanh Luy Lâu – trung tâm đầu não của chính quyền đô hộ Hán.
Khí thế của nghĩa quân dũng mãnh đến mức quân Hán nghe tiếng voi gầm, trống giục đã rụng rời tay chân, bỏ vũ khí tháo chạy toán loạn. Tên Thái thú Tô Định hoảng loạn tột độ, phải cắt tóc, cạo râu, mặc giả thường dân để lẻn trốn chui trốn nhủi về nước.
Chỉ trong vòng hai tháng ngắn ngủi, toàn bộ 65 huyện thành (lãnh thổ nước ta thời bấy giờ) đã được giải phóng hoàn toàn. Đất nước sạch bóng quân thù sau hơn hai thế kỷ bị kìm kẹp. Khởi nghĩa đại thắng, bà Trưng Trắc được suy tôn lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương, lập nên vương triều tự chủ đầu tiên, đóng đô ngay tại quê hương Mê Linh.
Hai năm sau, triều đình nhà Hán vô cùng hoảng sợ và tức giận. Vua Hán hạ lệnh dốc toàn bộ binh lực phản công, phong cho Mã Viện – một viên tướng già vô cùng gian xảo, dày dạn kinh nghiệm trận mạc – làm chỉ huy đem 2 vạn quân tinh nhuệ sang tái xâm lược.
Dù lực lượng chênh lệch quá lớn, Hai Bà Trưng cùng các nghĩa quân vẫn kiên cường chiến đấu, nghênh chiến giặc dữ dội tại các vùng Lãng Bạc, Cổ Loa rồi lui về giữ Cẩm Khê.
Vào tháng 3 năm 43 SCN, trước làn sóng tấn công ồ ạt của quân thù, để giữ vẹn tròn danh dự và khí tiết, quyết không chịu sa vào tay giặc, Hai Bà Trưng đã bình thản hướng về quê hương, rồi cùng nhau gieo mình xuống dòng sông Hát tuẫn tiết.
Cuộc kháng chiến anh dũng tuy thất bại, nhưng hình ảnh hai người phụ nữ kiên cường oai nghiêm trên bành voi chiến đã trở thành tượng đài bất tử. Ngọn lửa yêu nước mà Hai Bà thắp lên từ dòng sông Hát năm ấy chưa bao giờ tắt, mở đường cho hàng loạt các cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta trong suốt ngàn năm sau.



