HÀO KHÍ MÊ LINH - KHÚC TRÁNG CA GIỮ NƯỚC
Biểu tượng bất tử của tinh thần quật cường và lòng yêu nước trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Thuở ấy, đất nước ta lầm than dưới ách đô hộ tàn bạo của quân Hán ngoại bang. Chúng ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân ta cùng cực, vơ vét từng hạt thóc, củ khoai và của cải để phục vụ cho tham vọng chiến tranh. Giữa chốn lầm than và u tối ấy, tại vùng đất Mê Linh hào hùng, xuất hiện hai người con gái tài sắc vẹn toàn là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Cả hai chị em đều sở hữu võ nghệ phi phàm, tầm nhìn sâu rộng và trên hết là nuôi dưỡng ý chí sắt đá giành lại nền độc lập tự chủ cho non sông.
Bấy giờ, Trưng Trắc duyên kết trăm năm cùng Thi Sách – một vị Lạc tướng kiên trung, người cũng mang trong mình khát vọng lớn lao và chí hướng chung đôi với vợ. Thế nhưng, sóng gió ập đến khi tướng giặc Tô Định, kẻ đang giữ chức thứ sử Giao Châu với bản tính tàn độc, đã âm mưu hãm hại và tước đoạt mạng sống của Thi Sách nhằm trừ khử những mầm mống chống đối. Nỗi đau thương mất mát ấy cùng cực như ngọn lửa dữ dội thiêu đốt lòng căm phẫn tột độ trong tâm can Trưng Trắc và Trưng Nhị. Không khuất phục trước cường quyền, hai bà quyết định phất cao ngọn cờ khởi nghĩa, dõng dạc hiệu triệu nhân dân muôn phương vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ.
Tiếng trống khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vừa vang lên đã nhận được sự hưởng ứng như sấm dậy khắp chốn. Trước sức mạnh vô địch của lòng dân đoàn kết, quân giặc hoàn toàn tan rã, không sao cưỡng lại nổi. Quân đội của Hai Bà đánh đến đâu thắng như chẻ tre đến đó, khiến kẻ thù khiếp vía tháo chạy toán loạn. Với khí thế chiến đấu sục sôi hừng hực và tài thao lược xuất chúng của hai vị nữ tướng, nghĩa quân tiến thẳng về giải phóng thành Luy Lâu, thu hồi non sông đất mẹ. Tướng giặc Tô Định khi ấy bẽ bàng, hoảng loạn phải vội vã tháo chạy thục mạng về nước, để lại thành Luy Lâu hoàn toàn trong tay quân ta.
Khải hoàn trở về sau chiến thắng oanh liệt, Hai Bà Trưng chính thức lên ngôi vua, xưng là Trưng Nữ Vương, trở thành hiện thân cho quyền lực tối cao và ý chí độc lập tự chủ của cả dân tộc. Dẫu vậy, niềm vui độc lập ngắn chẳng tày gang khi tập đoàn phong kiến nhà Hán quyết không chịu nhượng bộ trước thất bại nhục nhã. Mùa xuân năm 43, triều đình nhà Hán điều động đại tướng Mã Viện – một tay chỉ huy dày dặn trận mạc, tàn ác – đem đại quân sang đàn áp phong trào. Đối mặt với thế lực và binh lực giặc quá lớn mạnh, nghĩa quân của Hai Bà vẫn dũng mãnh kiên cường chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Thế nhưng, lực bất tòng tâm, trước tình thế ngặt nghèo, thà chết vinh còn hơn sống nhục, Hai Bà đã hiên ngang gieo mình xuống dòng sông Hát Giang tuẫn tiết, trọn vẹn giữ gìn lòng tự trọng và khí tiết tôn nghiêm của dân tộc.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Dù thân phế truất nhưng tấm gương oanh liệt, lẫm liệt của Hai Bà Trưng mãi mãi tỏa sáng rực rỡ trong tâm khảm mỗi người dân Việt. Kể từ đó, hình ảnh Hai Bà trở thành tượng đài bất tử của tinh thần quật cường, ý chí chiến đấu kiên cường không bao giờ khuất phục, khắc ghi tạc vào những trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam.
Cuộc khởi nghĩa vĩ đại của Hai Bà Trưng chưa bao giờ chỉ đơn thuần là một trận chiến chống giặc ngoại xâm thông thường, mà sâu xa hơn thế, đó là biểu tượng vĩnh cửu cho sức mạnh kiên cường, bất khuất của giống nòi Việt. Dù hai vị anh hùng đã vĩnh viễn đi xa, nhưng ngọn lửa từ tấm gương chí tình chí nghĩa ấy vẫn cháy mãi muôn đời, không ngừng khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đoàn kết sắt son trong trái tim mỗi người con đất Việt.



