Bài viết

HAI BÀN TAY VÀ MỘT HÀNH TRÌNH CỨU NƯỚC

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng ở Sài Gòn, một người thanh niên Việt Nam bước lên con tàu Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Người thanh niên ấy là Nguyễn Tất Thành — người sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh.

16/10/2026Xã Tuấn Đạo (Đoàn xã Tuấn Đạo)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
HAI BÀN TAY VÀ MỘT HÀNH TRÌNH CỨU NƯỚC



HAI BÀN TAY VÀ MỘT HÀNH TRÌNH CỨU NƯỚC

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng ở Sài Gòn, một người thanh niên Việt Nam bước lên con tàu Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Người thanh niên ấy là Nguyễn Tất Thành — người sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Năm đó, Người vừa tròn 21 tuổi.

Phía sau Người là quê hương đang chịu ách thống trị của thực dân, là cuộc sống cơ cực của đồng bào và những phong trào yêu nước đã trải qua nhiều hy sinh mà chưa giành được độc lập. Phía trước là biển lớn, là những xứ sở xa lạ, những ngôn ngữ chưa thông thạo và một con đường chưa biết sẽ kéo dài bao lâu.

Nguyễn Tất Thành ra đi với một câu hỏi lớn: Làm thế nào để đất nước được độc lập, để đồng bào được tự do?

Trong câu chuyện được kể lại về những ngày chuẩn bị ra đi, Nguyễn Tất Thành từng rủ một người bạn cùng mình ra nước ngoài. Người bạn lo lắng vì không có tiền thì biết sống bằng cách nào. Thành đưa hai bàn tay ra, bày tỏ quyết tâm sẽ làm việc để sống và để đi.

Chi tiết ấy trở thành một hình ảnh đáng nhớ về buổi đầu hành trình cứu nước: một người thanh niên có thể thiếu tiền bạc, thiếu chỗ dựa nơi đất khách, nhưng vẫn tin vào sức lao động và ý chí của mình.

Trên con tàu rời Sài Gòn, với tên gọi Văn Ba, Người làm phụ bếp. Công việc nặng nhọc, những ngày lênh đênh trên biển và cuộc sống của một người lao động xa quê là những thử thách đầu tiên.

Từ đó, hành trình của Người đi qua nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Người làm việc để kiếm sống, tranh thủ học ngoại ngữ, đọc sách báo và quan sát xã hội. Những điều mắt thấy, tai nghe giúp Người hiểu thêm về cuộc sống của người lao động và số phận các dân tộc thuộc địa.

Càng đi xa, câu hỏi về con đường giải phóng quê hương càng thôi thúc.

Năm 1919, dưới tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị Versailles, đòi những quyền tự do, dân chủ cơ bản cho người Việt Nam. Những yêu cầu ấy không được hội nghị chấp nhận, nhưng tiếng nói về quyền lợi của một dân tộc thuộc địa đã được cất lên trước dư luận quốc tế.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Đây là bước ngoặt quan trọng trong quá trình Người tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc. Từ lòng yêu nước, Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản.

Sau đó là những năm tháng hoạt động bền bỉ: viết báo, xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ và chuẩn bị những điều kiện cho cách mạng Việt Nam. Hành trình ấy có cả hiểm nguy, tù đày và những lần phải di chuyển bí mật. Mong muốn trở về quê hương vẫn gắn liền với công việc chuẩn bị cho ngày đất nước có thể tự quyết định vận mệnh của mình.

Mùa xuân năm 1941, sau gần ba mươi năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Nơi Người sống và làm việc trong những ngày đầu trở về là vùng Pác Bó, Cao Bằng. Sau hành trình qua nhiều thành phố lớn trên thế giới, Người tiếp tục công việc giữa núi rừng, trong điều kiện thiếu thốn. Từ nơi ấy, cùng với Trung ương Đảng, Người xây dựng lực lượng và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập.

Bốn năm sau, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Người thanh niên từng rời Bến Nhà Rồng với công việc phụ bếp nay đứng trước quốc dân đồng bào, tuyên bố nền độc lập của dân tộc. Từ chuyến tàu năm 1911 đến ngày độc lập năm 1945 là hơn ba thập kỷ tìm đường, hoạt động và đấu tranh, gắn với sự hy sinh, đóng góp của biết bao thế hệ người Việt Nam.

Câu chuyện ra đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì thế luôn để lại nhiều suy ngẫm. Một quyết tâm lớn được thực hiện bằng những việc rất cụ thể: lao động để sống, học để hiểu, đi để tìm câu trả lời và kiên trì hành động vì mục tiêu đã chọn.

Hai bàn tay của người thanh niên năm ấy đã bắt đầu một hành trình dài. Điều dẫn đường cho hành trình ấy là lòng yêu nước và khát vọng đem lại độc lập, tự do cho đồng bào.



Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
HAI BÀN TAY VÀ MỘT HÀNH TRÌNH CỨU NƯỚC | Câu chuyện thời hoa lửa