HAI CHIẾN SỸ THÉP: 843 VÀ 390
Hai chiếc Xe tăng, số hiệu 843 và 390 được công nhận là Bảo vật quốc gia vì đây là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến Chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Hai chiếc xe tăng này đã tiến vào dinh Độc Lập sớm nhất. Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót khi chúng ta bóc tách quá rành rẽ, chỉ kể về hai chiếc xe tăng này mà không nói đến 75 chiếc xe tăng khác của Lữ đoàn 203 (Quân đoàn 2)-đơn vị chủ công trong mũi thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn của cánh quân phía đông. Cũng sẽ là thiếu sót nếu không nói đến tập thể Đại đội 4, Tiểu đoàn 1 đã sát cánh “đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể”. Và lại càng thiếu sót nếu không kể đến bao hy sinh mất mát của đồng đội để hai chiếc xe tăng đó lập công đúng giờ toàn thắng.Chúng tôi xin bắt đầu câu chuyện vào sự kiện tháng 2-1972, khi Đại đội 4, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 làm nhiệm vụ chiến đấu độc lập theo hướng đánh vu hồi phía tây nam thành Huế. Đại đội 4 lúc này được biên chế 8 chiếc xe tăng T-59 với số hiệu lần lượt: 380, 381, 382, 386, 387, 388, 389 và 390. Biên chế thành hai trung đội, trong đó xe 386 của Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và xe 390 của Chính trị viên Vũ Đăng Toàn. Cho đến trước ngày 27-1-1973, khi diễn ra trận đánh cứ điểm Tà Lương, Đại đội 4 đã thiệt hại một xe (xe 388) trong trận oanh kích của B-52 khi cả đại đội vượt đỉnh Trường Sơn hướng về Huế. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh trong các hoàn cảnh khác nhau do bị sức ép của bom, vướng mìn, sốt rét… Mỗi chiếc xe tăng đều là tài sản quý và được sự chăm sóc nâng niu của toàn thành viên trong đại đội. Trong Chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Đại đội 4 chi viện hỏa lực cho bộ binh đánh thắng nhiều trận, trong đó có trận truy kích bắt sống hàng chục xe tăng địch tại cửa biển Thuận An-Huế. Đó có thể coi là chiến công đầu của Đại đội 4 dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Quang Thận và Chính trị viên Vũ Đăng Toàn.
Gặp chúng tôi, cựu chiến binh (CCB) Vũ Đăng Toàn kể lại, sau khi tham gia giải phóng Đà Nẵng, Đại đội 4 lại được lệnh tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Từ ngày 10-4 đến 24-4-1975, Đại đội 4 trong đội hình của Lữ đoàn 203 đã tổ chức hành quân gần 1000km vào Rừng Lá thuộc địa phận tỉnh Bình Thuận, trong đó có những chặng xe tăng phải chạy ròng rã 230 cây số một ngày. Trên đường cơ động vào chiến trường, đơn vị đã khắc phục nhiều khó khăn, đưa xe vượt cầu yếu, ngầm, đèo… bảo đảm 100% xe và người vào địa điểm tập kết an toàn. Tại đây, đơn vị được giao nhiệm vụ dẫn đầu Quân đoàn 2 thọc sâu đánh chiếm Sài Gòn.
Ngày 29-4-1975, Đại đội 4 được lữ đoàn giao nhiệm vụ hiệp đồng với bộ binh tiến công căn cứ Nước Trong. Đây là một căn cứ quan trọng án ngữ đường tiến về Sài Gòn nên địch tổ chức phòng ngự rất mạnh, Đại đội tăng 5 cùng với bộ binh đã đánh 3 trận mà chưa giải quyết được, còn bị thiệt hại nặng. Khi nhận nhiệm vụ, Đại đội 4 đã tiến hành nhiều biện pháp như: Tích cực trinh sát nắm tình hình, chủ động đề đạt lùi thời gian tiến công với bộ binh; tổ chức đội hình thành hai tuyến để chi viện lẫn nhau; dùng đạn nổ phát quang rừng cao su để phát hiện xe tăng địch. Trong trận này, Đại đội 4 đã tiêu diệt 3 xe M48 và 1 xe M41 cùng nhiều bộ binh địch, làm cho Chiến đoàn 318 của địch phải núng thế rút chạy, mở đường cho cánh quân phía đông tiến về Sài Gòn. Ngày 30-4-1975, Đại đội 4 dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 đánh chiếm Sài Gòn. Tại đầu cầu Sài Gòn, đại đội đã cùng các xe trong tiểu đoàn tiêu diệt 2 xe M48. Sau khi vượt cầu Sài Gòn, đại đội tiếp tục đập tan các ổ đề kháng của địch để tiến về mục tiêu chủ yếu là dinh Độc Lập.
Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975, hai xe tăng số 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy và số 390 do Chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy, đã húc đổ cánh cổng chính và cổng phụ của dinh Độc Lập. Ngay sau đó, Trung úy Bùi Quang Thận đã cắm lá cờ quyết chiến, quyết thắng của quân đội ta lên nóc dinh Độc Lập, báo hiệu giờ khắc hoàn toàn giải phóng miền Nam.



