Bài viết

Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam – từ tự phát đến tự giác, từ bi tráng đến toàn thắng

Đầu tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tiến công Đà Nẵng, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, dân tộc ta phải đối mặt với một kẻ thù đến từ phương Tây, vượt trội về tiềm lực kinh tế, quân sự và đặc biệt là vũ khí, công nghệ chiến tranh. Trước thử thách mang tính sinh tử ấy, truyền thống yêu nước nồng nàn và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam đã trỗi dậy mạnh mẽ.

Phú Thọ13/01/2026Đoàn xã Tân Lạc (Đoàn xã Tân Lạc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam từ tự phát đến tự giác, từ bi tráng đến toàn thắng

Đầu tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tiến công Đà Nẵng, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, dân tộc ta phải đối mặt với một kẻ thù đến từ phương Tây, vượt trội về tiềm lực kinh tế, quân sự và đặc biệt là vũ khí, công nghệ chiến tranh. Trước thử thách mang tính sinh tử ấy, truyền thống yêu nước nồng nàn và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam đã trỗi dậy mạnh mẽ.

Trong suốt nửa sau thế kỷ XIX (1858–1896), mặc dù triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng, nhưng tinh thần kháng chiến của nhân dân không bao giờ bị khuất phục. Ở khắp mọi miền đất nước, từ đồng bằng đến trung du, miền núi, từ Bắc chí Nam, nhân dân đã anh dũng đứng lên chiến đấu, khi thì phối hợp cùng quan quân triều đình, khi thì tự tổ chức lực lượng chống xâm lược.

Nhiều phong trào yêu nước tiêu biểu đã ghi dấu sâu đậm trong lịch sử dân tộc. Phong trào Cần Vương do các văn thân, sĩ phu yêu nước lãnh đạo diễn ra rộng khắp từ năm 1885 đến 1896. Các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Nguyễn Hữu Huân bùng lên ngay tại những vùng địch chiếm đóng. Ở miền trung du và miền núi phía Bắc, khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo kéo dài gần 30 năm (1884–1913), trở thành biểu tượng bền bỉ của ý chí chống xâm lược. Bên cạnh đó là các cuộc khởi nghĩa lớn như Hương Khê, Ba Đình, Bãi Sậy, Hưng Hóa… cùng phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng; và sau này là khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo.

Các văn thân, sĩ phu yêu nước và những người lãnh đạo phong trào đã dựa vào dân, tin vào sức mạnh của nhân dân, trở thành những ngọn cờ tập hợp quần chúng đứng lên chống thực dân Pháp. Tuy nhiên, do thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng thống nhất, các phong trào đấu tranh yêu nước cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX lần lượt thất bại. Dẫu vậy, những cuộc khởi nghĩa ấy đã hun đúc tinh thần yêu nước, giữ lửa đấu tranh và chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển mới của cách mạng Việt Nam.

Bước ngoặt mang tính quyết định của lịch sử dân tộc diễn ra vào ngày 3 tháng 2 năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Lần đầu tiên, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, có đường lối đúng đắn, khoa học và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cao trào cách mạng diễn ra sôi nổi trên phạm vi cả nước.

Tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật đảo chính lật đổ thực dân Pháp. Trước tình hình mới, Trung ương Đảng kịp thời ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định rõ con đường hành động của cách mạng. Từ tháng 4 năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh mẽ. Tháng 8 năm 1945, tại Tân Trào, Hội nghị toàn quốc của Đảng khẳng định thời cơ giành độc lập đã chín muồi và quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, chỉ trong vòng nửa cuối tháng 8 năm 1945, Nhân dân cả nước đã đồng loạt đứng lên giành chính quyền. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tuy nhiên, nền độc lập non trẻ lập tức phải đối mặt với vô vàn thử thách. Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định quyết tâm sắt đá của dân tộc: toàn dân đứng lên đánh thực dân Pháp để bảo vệ Tổ quốc.

Trong suốt 9 năm kháng chiến (1945–1954), dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta kiên trì thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Qua từng chiến dịch lớn như Việt Bắc Thu – Đông 1947, Biên giới 1950, Hòa Bình 1951, Tây Bắc 1952, Đông Xuân 1953–1954, sức mạnh của quân đội và Nhân dân không ngừng lớn mạnh.

Đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Pháp là chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc.

Nhìn lại hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – từ nửa cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX – có thể thấy rõ sự chuyển biến mang tính lịch sử: từ những phong trào đấu tranh yêu nước mang tính tự phát, phân tán, đến cuộc kháng chiến có đường lối đúng đắn, có tổ chức, có lãnh đạo thống nhất và giành thắng lợi hoàn toàn. Dù kết quả khác nhau, cả hai giai đoạn đều để lại những bài học sâu sắc về lòng yêu nước, sức mạnh của nhân dân và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

Những bài học ấy không chỉ có giá trị trong chiến tranh giải phóng dân tộc, mà còn tiếp tục được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Trong mọi hoàn cảnh, khi lòng dân được khơi dậy và tinh thần đoàn kết được phát huy, dân tộc Việt Nam luôn đủ bản lĩnh để vượt qua mọi thử thách, giữ vững độc lập, chủ quyền và tương lai của đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn